Life’s quality of immigrant workers in Ho Chi Minh City
- University of Economics and Law, VNU-HCM, Vietnam
Abstract
Migration is an indispensable trend in Ho Chi Minh City (HCMC), and immigrant workers have become an important resource contributing to economic growth. This study aims to clarify the quality of life of immigrant workers and offer a scientific basis for policies that promote the positive contributions of immigrant workers. A linear structural equation model is used to analyze data of 394 observations, including 253 migrant workers and 141 local workers. Quality of life is first assessed by whether immigrant workers can meet or satisfy a variety of their needs. Then the relationship between the needs and outcomes such as income, education, and effort-to-stay is analyzed using a mediator named assimilation. Finally, a comparison between groups such as migrant and local workers, migrants living in HCMC under and over ten years is conducted. The results indicated that employment, settlement, and social support have a direct impact on their assimilation and the strongest indirect impact on effort-to-stay, income, and education. Besides, effort-to-stay and income have a mutual impact. The results also proved that there are differences between migrant workers and local workers but no difference between under 10-year migrants and over 10-year migrants.
GIỚI THIỆU
Di cư đến các đô thị lớn như Tp.HCM là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển và lao động nhập cư (LĐNC) trở thành lực lượng quan trọng đóng góp trong tăng trưởng kinh tế ở nơi đến. Đặc điểm của LĐNC sẽ tạo ra lợi tức đối với tăng trưởng từ tham gia lực lượng lao động và các loại hình công việc, tăng thu nhập và tiết kiệm, tăng cầu hàng hóa - dịch vụ 1, 2, 3. Tuy nhiên, LĐNC có xu hướng ngày càng trẻ, trình độ học vấn thấp, tiêu dùng tiết kiệm và tích lũy thu nhập để gửi về cho người thân, việc làm và thu nhập không ổn định, trẻ em không được đến trường, điều kiện sống không được đảm bảo 4, 5, 6 nên chưa thực sự tạo ra lợi tức đối với tăng trưởng. Bên cạnh đó, di cư cũng là chiến lược sinh kế của các hộ gia đình nông thôn, tình trạng cuộc sống khó khăn ở nơi đi đã thúc đẩy lao động di cư nhưng tình trạng cuộc sống ở nơi đến cũng thúc đẩy không ít lao động tiếp tục di cư hay hồi cư. LĐNC này sẽ mang theo vốn con người, vốn tài chính tích lũy được sau khoảng thời gian sinh sống ở nơi đến, gây ra các biến động như khi mới đến và làm thất thoát lợi tức đối với tăng trưởng. Ngoài ra, các địa phương đã có các giải pháp như xây dựng các rào cản để ngăn chặn dòng di cư bằng qui định hộ khẩu, cấm xe máy vào đô thị,… hay xây dựng chính sách để hỗ trợ bằng dự án nhà ở xã hội, giới thiệu việc làm,… nhưng thực tế cho thấy các giải pháp này chưa hiệu quả, làm LĐNC gặp nhiều khó khăn hơn và làm giảm lợi tức đối với tăng trưởng. Thực tế cho thấy tình trạng cuộc sống ảnh hưởng đến khả năng đóng góp và ý định ở lại đóng góp lâu dài cho nơi đến, nghiên cứu về tình trạng cuộc sống và ý định ở lại lâu dài là cần thiết và là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách khuyến khích tác động tích cực từ LĐNC.
Các báo cáo định kỳ của Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số Liên hợp quốc trong thời gian qua đã có nhiều minh chứng cho thấy đặc điểm của LĐNC thay đổi theo thời gian nhưng thực tế lại có rất ít nghiên cứu được thực hiện trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó, báo cáo chuyên sâu của Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số Liên hợp quốc (2016) đo lường mức độ hài lòng của LĐNC theo nhiều khía cạnh cuộc sống nhưng chưa đo lường các mối quan hệ xã hội và chưa làm rõ khía cạnh nào đáp ứng tốt nhất nhu cầu cuộc sống và có ý nghĩa quan trọng nhất đối với LĐNC 6. Ngược lại, các nghiên cứu xác định nhân tố quan trọng nhưng chỉ mới tập trung vào một vài khía cạnh cuộc sống, như đáp ứng nguồn cung lao động thiếu hụt ở thành thị, lựa chọn công việc kinh doanh hay làm công ăn lương, chất lượng việc làm 7, 8, 9. Lê Bạch Dương và cộng sự. (2010) nghiên cứu khác biệt giữa qui định và thực thi chính sách bảo trợ xã hội và kết luận khác biệt này làm tăng rủi ro cuộc sống, LĐNC bị giới hạn về lựa chọn việc làm và khu vực làm việc nếu dựa vào mạng lưới xã hội 10, trong khi các nghiên cứu khác lại đánh giá cao vai trò của mạng lưới xã hội. Ngan và Pincus (2011) đo lường tài sản lúc mới đến nhưng chỉ tập trung vào nhóm LĐNC dưới 6 tháng, Loc và cộng sự. (2017) đề cập đến khả năng tiếp cận phúc lợi xã hội nhưng chỉ tập trung vào nhóm công nhân nhập cư 11, 12. Ngoài ra, các nghiên cứu trên đều chưa xem xét mối quan hệ giữa tình trạng cuộc sống, kết quả kinh tế và ý định ở lại lâu dài.
Một số nghiên cứu cũng có kết luận khác biệt. Nguyễn Thị Thái Châu (2019) chứng minh rằng việc làm, thu nhập và tiếp cận dịch vụ là không có ý nghĩa thống kê, trong khi Loc và cộng sự. (2017) cho rằng cơ hội việc làm và điều kiện sinh sống tốt hơn có ý nghĩa thống kê đối với ý định ở lại lâu dài 12, 13. Dustmann và Gorlach (2016) chứng minh rằng đây là mối quan hệ phức tạp đa chiều, kết luận rằng ý định di cư có tác động đến kết quả kinh tế và ngược lại 14, các nghiên cứu khác cho rằng dự định độ dài thời gian sinh sống ở nơi đến và hành vi kinh tế là độc lập với nhau và bỏ qua tác động này. Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu trong nước đo lường ý định ở lại lâu dài bằng nhận định chủ quan, Dustmann và Gorlach (2016) đo lường bằng độ dài thời gian sinh sống 14.
Tiếp cận từ kết quả của Dustmann và Gorlach (2016), nghiên cứu mong muốn đánh giá mối quan hệ tác động qua lại giữa tình trạng cuộc sống, kết quả kinh tế và ý định ở lại lâu dài, đồng thời xác định khía cạnh nào của cuộc sống có ý nghĩa tác động trực tiếp đến tình trạng cuộc sống và gián tiếp đến kết quả kinh tế, ý đinh ở lại lâu dài của LĐNC Tp.HCM. Việc xác định khía cạnh cuộc sống quan trọng sẽ là cơ sở kiến nghị các chính sách ưu tiên nhằm ổn định cuộc sống góp phần khuyến khích tác động tích cực từ nhóm lao động này.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
Theo Tổ chức Châu Âu về cải thiện điều kiện sống và làm việc (2004), chất lượng cuộc sống là một tập hợp bao gồm các điều kiện sống cơ bản hay các cơ hội của cá nhân có được như việc làm, nhà ở, giáo dục, sức khỏe,… 15. Một số nghiên cứu cũng xây dựng thang đo chi tiết đo lường các khía cạnh này của tình trạng cuộc sống. Mô hình IIM được xây dựng năm 2016 với mục đích đánh giá quá trình hội nhập của LĐNC ở Gdansk Ba Lan nhằm xác định nhu cầu và vấn đề của LĐNC, đánh giá các nguồn lực và khả năng sẵn có để đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề, bao gồm: giáo dục, cộng đồng địa phương, văn hóa, bạo lực và phân biệt chủng tộc, sức khỏe, việc làm, trợ giúp xã hội và nhà ở16. Chỉ số CIMI được xây dựng lần đầu tiên vào năm 2017 nhằm mục đích cung cấp thước đo đánh giá tình trạng cuộc sống của LĐNC so với xã hội nơi nhập cư và đo lường bằng 4 nhóm chỉ số: kinh tế (việc làm, tiền lương, nhà ở), xã hội (kết nối bạn bè – địa phương), sức khỏe (chăm sóc sức khỏe, chi phí y tế, áp lực cuộc sống) và tham gia xã hội dân sự (thiện nguyện, các tổ chức, hội nhóm, bầu cử)17. Nghiên cứu của OECD và EU (2018) cho rằng hòa nhập cuộc sống là khả năng của LĐNC đạt được các kết quả kinh tế - xã hội tương đồng với lao động địa phương (LĐĐP) nếu có cùng đặc điểm cá nhân và được đo lường bằng 3 khía cạnh: kỹ năng của LĐNC và hòa nhập trên thị trường lao động (giáo dục, ngoại ngữ, đào tạo, chất lượng việc làm), điều kiện sống (thu nhập, nhà ở, tình trạng sức khỏe và tham gia hệ thống chăm sóc sức khỏe), tham gia hoạt động dân sự và hòa nhập xã hội (bầu cử, phân biệt chủng tộc,…) 18. Một cách hệ thống và nền tảng hơn, Ager và Strang (2004, 2008) cũng mô tả kết quả quá trình hòa nhập cuộc sống bằng 4 nhân tố với 10 khía cạnh cuộc sống theo dõi tại Table 1.
Thang đo hòa nhập cuộc sống
| 1. Phương tiện và dấu hiệu | Việc làm | Nhà ở | Giáo dục | Sức khỏe |
| 2. Kết nối xã hội | Các cầu nối xã hội | Các tương trợ xã hội | Các liên kết xã hội | |
| 3. Các khuyến khích | Ngôn ngữ và văn hóa | An toàn và ổn định | ||
| 4. Các nền tảng | Các quyền công dân | |||
Chiswick (1978) là người tiên phong thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về hòa nhập kinh tế và đo lường bằng hội tụ tiền lương giữa LĐNC và LĐĐP, Chiswick gọi đây là hòa nhập trên thị lao động và kết luận rằng thu nhập của LĐNC phụ thuộc vào vốn con người tích lũy ở nơi đến và độ dài thời gian sinh sống ở nơi đến21. Borjas (1985, 2014) cho rằng hòa nhập kinh tế là sự hội tụ theo thời gian giữa LĐNC và LĐĐP về kết quả kinh tế như cơ hội việc làm và thu nhập, Borjas kết luận khả năng hòa nhập của LĐNC giảm dần theo thời gian và do đó sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chương trình phúc lợi xã hội hay bảo trợ xã hội 21, 22. Ngoài ra, nghiên cứu thực nghiệm gần đây của Dustmann và Gorlach (2016) cũng đo lường kết quả kinh tế của LĐNC bằng việc làm, tiền lương, tiết kiệm, nghề nghiệp, giải trí, tiêu dùng và đầu tư vốn con người; và đo lường ý định ở lại lâu dài hay tạm thời bằng độ dài thời gian sinh sống ở nơi đến; Qiu và cộng sự. (2011), Ren và Folmer (2016) đo lường tình trạng kinh tế - xã hội của LĐNC bằng thu nhập và trình độ giáo dục 14, 23, 24.
Như vậy có thể hiểu, chất lượng cuộc sống được phản ánh qua tình trạng cuộc sống và hòa nhập cuộc sống, trong đó các khía cạnh cuộc sống được đo lường bằng tất cả các khía cạnh như tham gia thị trường lao động (việc làm), tiêu dùng hàng hóa - dịch vụ công (giáo dục, y tế, nhà ở), hình thành gắn kết xã hội (các mối quan hệ xã hội, các hoạt động dân sự - xã hội - chính trị), và thực thi quyền công dân (tiếng nói, bình đẳng); và hòa nhập cuộc sống được đo lường bằng các kết quả đạt được (thu nhập, trình độ giáo dục), ý định ở lại lâu dài (độ dài thời gian sinh sống ở nơi đến). Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi kinh tế nên tình trạng cuộc sống được đánh giá theo các khía cạnh trên nhưng không bao gồm tham gia các hoạt động dân sự - xã hội - chính trị và thực thi quyền công dân, bên cạnh đó các kết quả kinh tế được đánh giá theo thay đổi thu nhập và trình độ giáo dục qua so sánh giữa LĐNC và LĐĐP, giữa LĐNC sinh sống ở Tp.HCM dưới 10 năm và trên 10 năm, đồng thời khác với các nghiên khác, ý định ở lại được đánh giá bằng hành vi tích cực thay đổi để thích nghi với cuộc sống ở nơi đến.
Tình trạng cuộc sống, kết quả đạt được và ý định ở lại có mối quan hệ đa chiều phức tạp 14, 18, 24. Tình trạng việc làm là khía cạnh quan trọng đầu tiên và luôn được xem xét trong tất cả các nghiên cứu, được đo lường cụ thể bằng chất lượng việc làm 9, 25, 18. OECD và EU (2018) chứng minh tiếp cận việc làm tác động thuận chiều đến tình trạng thu nhập và kết luận rằng LĐNC khó hòa nhập được vào thị trường lao động do tình trạng đối xử phân biệt, và do đó tỉ lệ nghèo của nhóm LĐNC có xu hướng ngày càng tăng và cách biệt ngày càng lớn so với nhóm LĐĐP 18. Loc và cộng sự. (2013) chứng minh độ dài thời gian sinh sống ở nơi đến có tác động thuận chiều đến tình trạng việc làm, ngược lại Loc và cộng sự. (2017) chứng minh rằng cơ hội việc làm có tác động thuận chiều đến độ dàithời gian sinh sống ở nơi đến 9, 12. Liu và cộng sự (2016) với mục tiêu nghiên cứu mối quan hệ hai chiều giữa tình trạng nhà ở và ý định ở lại đã chứng minh rằng tiếp cận nhà ở không có tác động thúc đẩy ý định ở lại của LĐNC, nhưng nếu LĐNC có ý định ở lại thì sẽ cố gắng tiếp cận nhà ở 26. Bên cạnh đó, Ren và Folmer (2016) cho rằng tình trạng nhà ở của LĐNC, các tiện ích địa phương như giáo dục, y tế, khu mua sắm, vui chơi giải trí và chất lượng môi trường sống có tác động thuận chiều đến sự hài lòng về cộng đồng dân cư nơi đến, và do đó sẽ có ít động cơ để di chuyển ra khỏi cộng đó và gắn kết hơn với cộng đồng đó24. Ngoài ra, Adul và Muhmin (2010) cũng xem xét không gian sống là nhu cầu thiết yếu, không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn đáp ứng nhu cầu tâm lý của con người 24. Vì vậy, nghiên cứu kỳ vọng rằng tình trạng cuộc sống như tiếp cận thị trường lao động, nhà ở, tiện ích địa phương, gắn kết xã hội có tác động thuận chiều đến kết quả đạt đượctình trạng cuộc sống, kết quả đạt được có tác động tương hỗ, thuận chiều đến ý định ở lại (Figure 1).
Giả thuyết nghiên cứu:
H: Tình trạng cuộc sống tác động đến hòa nhập cuộc sống
H: Hòa nhập cuộc sống tác động đến tình trạng thu nhập, giáo dục
H: Hòa nhập cuộc sống tác động đến ý định ở lại lâu dài
H: Ý định ở lại lâu dài tác động đến hòa nhập cuộc sống
H: Ý định ở lại lâu dài tác động đến tình trạng thu nhập, giáo dục

Mô hình nghiên cứu
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để làm rõ mối quan hệ đa chiều và đa khía cạnh trong mô hình trên, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng qua phân tích mô hình hồi qui cấu trúc tuyến tính SEM 27, 28. Tình trạng cuộc sống, kết quả đạt được và ý định ở lại lâu dài là các nhân tố đo lường từ các biến quan sát được đánh giá theo thang đo Likert 5 mức độ, với 1 là rất không được thỏa mãn hay đáp ứng và 5 là rất được thỏa mãn hay đáp ứng. Hòa nhập cuộc sống là nhân tố tiềm ẩn được hình thành từ mô hình cấu trúc.
Với số nhân tố độc lập như mô hình theo Figure 1, cỡ mẫu tối thiểu là 150 quan sát nếu sử dụng hệ số tải từ 0,5 hoặc 300 quan sát nếu hệ số tải từ 0,45 trở lên theo phân tích cấu trúc, hoặc n=5*Số biến quan sát=400 theo phân tích nhân tố 29, do đó nghiên cứu lựa chọn cỡ mẫu cần thiết ban đầu là 400 quan sát. Khi khảo sát thực tế, nghiên cứu thực hiện lấy mẫu phân tầng theo các quận huyện với tỉ lệ lấy mẫu tại mỗi quận huyện tương ứng với mật độ tập trung LĐNC ở Tp.HCM 30 kết hợp với lấy mẫu ngẫu nhiên định mức theo giới tính, độ tuổi và thời gian sinh sống ở Tp.HCM, sau đó tiếp cận ngẫu nhiên các đối tượng và tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo bảng hỏi được thiết kế sẵn, kết quả thu thập được dữ liệu từ 394 lao động, bao gồm 253 LĐNC và 141 LĐĐP từ 23 tuổi trở lên - độ tuổi chính thức tham gia thị trường lao động khi tốt nghiệp đại học, đang có việc làm hoặc đang thất nghiệp, có nơi sinh ở tỉnh thành khác Tp.HCM.
Sau khi kiểm tra độ tin cậy dữ liệu và tương quan giữa các biến quan sát theo hệ số Cronbach’s Alpha, nghiên cứu tiến hành phân tích mô hình đo lường bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá và nhân tố khẳng định, phân tích và kiểm định mô hình cấu trúc theo các chỉ số CMIN/df, GFI, TLI, CFI và RMSE. Kết quả mô hình cấu trúc tối ưu sẽ được sử dụng để phân tích khác biệt giữa các nhóm. 27, 28, 29, 31, 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ
Kết quả kiểm định
Kiểm định độ tin cậy thang đo có 2 biến quan sát thuộc thang đo nhân tố Quan hệ xã hội và 3 biến quan sát thuộc thang đo nhân tố Ý định ở lại bị loại, các thang đo khác đảm bảo yêu cầu. Nghiên cứu tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khám phá và loại 19 biến quan sát, các biến quan sát còn lại được trích thành 13 nhân tố ngoại sinh và 4 nhân tố nội sinh được đặt tên lại như tại Table 2, Table 3.
Thang đo nhân tố ngoại sinh mới từ phân tích nhân tố
| Nhân tố và thang đo | Ký hiệu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 |
| Việc làm | vlam | |||||||||||||
| Điều kiện làm việc, môi trường làm việc | vlam1 | 0,745 | ||||||||||||
| Môi trường làm việc | vlam2 | 0,722 | ||||||||||||
| Chính sách phúc lợi | vlam3 | 0,693 | ||||||||||||
| Cơ hội đào tạo | vlam4 | 0,676 | ||||||||||||
| Cơ hội thăng tiến | vlam5 | 0,674 | ||||||||||||
| Cơ hội học hỏi | vlam6 | 0,651 | ||||||||||||
| Cơ hội phát huy | vlam7 | 0,563 | ||||||||||||
| Chỗ ở | nhaodapung | |||||||||||||
| Chỗ ở ổn định | nhao1 | 0,793 | ||||||||||||
| Chỗ ở đi lại thuận lợi | nhao2 | 0,694 | ||||||||||||
| Chỗ ở rộng rãi, thoáng mát | nhao3 | 0,682 | ||||||||||||
| Không gian chung rộng rãi, thoáng mát | nhao4 | 0,629 | ||||||||||||
| Chi phí chỗ ở | nhaocphi | |||||||||||||
| Chi phí chỗ ở thấp | cocphithap | 0,972 | ||||||||||||
| Chi phí chỗ ở phù hợp với khả năng chi trả | cocphikntra | 0,953 | ||||||||||||
| Chi phí chỗ ở phù hợp với thị trường | cocphittruong | 0,892 | ||||||||||||
| Giáo dục | gduc | |||||||||||||
| Bản thân tham gia thuận lợi, dễ dàng | dvucong1 | 0,748 | ||||||||||||
| Người thân tham gia thuận lợi, dễ dàng | dvucong2 | 0,717 | ||||||||||||
| Chất lượng giáo dục tốt, đảm bảo | dvucong3 | 0,689 | ||||||||||||
| Chi phí giáo dục phù hợp khả năng chi trả | dvucong4 | 0,541 | ||||||||||||
| Không gian học tập thoải mái, dễ chịu | dvucong5 | 0,539 | ||||||||||||
| Y tế | yte | |||||||||||||
| Bản thân tham gia thuận lợi, dễ dàng | dvucong6 | 0,998 | ||||||||||||
| Người thân tham gia thuận lợi, dễ dàng | dvucong7 | 0,721 | ||||||||||||
| Giáo dục – y tế đáp ứng | gdytdapung | |||||||||||||
| Nhu cầu học tập được đáp ứng | gdncau | 0,694 | ||||||||||||
| Nhu cầu khám chữa bệnh được đáp ứng | ytncau | 0,654 | ||||||||||||
| Giáo dục được cải thiện nơi ở trước đây | gdcthien | 0,612 | ||||||||||||
| Y tế được cải thiện tốt hơn nơi ở trước đây | ytcthien | 0,557 | ||||||||||||
| Giao thông | gthong | |||||||||||||
| Thuận lợi, dễ dàng tham gia giao thông đa dạng | dvcong11 | 0,821 | ||||||||||||
| Thuận lợi, dễ dàng tham gia giao thông kết nối | dvcong12 | 0,748 | ||||||||||||
| Giải trí | gtri | |||||||||||||
| Thuận lợi, dễ dàng lựa chọn hình thức đa dạng | dvcong15 | 0,624 | ||||||||||||
| Thuận lợi, dễ dàng đến các khu vui chơi | dvcong16 | 0,549 | ||||||||||||
| Giải trí đáp ứng | gtridapung | |||||||||||||
| Nhu cầu vui chơi, giải trí được đáp ứng | vcncau | 0,700 | ||||||||||||
| Chi phí vui chơi phù hợp khả năng chi trả | vcknctra | 0,692 | ||||||||||||
| Bản thân tham gia thuận lợi, dễ dàng | vcde | 0,579 | ||||||||||||
| Cảnh quan | canhquan | |||||||||||||
| Các khu vui chơi tốt, đảm bảo | dvcong17 | 0,785 | ||||||||||||
| Không gian rộng rãi, thoáng mát | dvcong18 | 0,712 | ||||||||||||
| Môi trường sạch sẽ, không khí trong lành | dvcong19 | 0,646 | ||||||||||||
| Có nhiều cảnh quan đẹp | dvcong20 | 0,633 | ||||||||||||
| An ninh trật tự, an toàn xã hội | dvcong21 | 0,627 | ||||||||||||
| Mật độ thưa thớt | dvcong22 | 0,537 | ||||||||||||
| Quan hệ bạn bè | xhqhe | |||||||||||||
| Liên lạc thường xuyên với bạn bè cùng quê | xhban | 0,827 | ||||||||||||
| Liên lạc thường xuyên với bạn bè khác quê | xhbankhac | 0,617 | ||||||||||||
| Quan hệ cộng đồng | xhconnguoi | |||||||||||||
| Con người thân thiện, hòa đồng, gần gũi | qhxh5 | 0,915 | ||||||||||||
| Con người luôn quan tâm, sẵn sàng giúp đỡ | qhxh6 | 0,749 | ||||||||||||
| Hỗ trợ | xhhtro | |||||||||||||
| Thường xuyên hỗ trợ người thân, bạn bè | qhxh3 | 0,858 | ||||||||||||
| Thường xuyên nhận hỗ trợ từ người thân, bạn bè | qhxh4 | 0,637 |
Thang đo nhân tố nội sinh mới từ phân tích nhân tố
| Nhân tố và thang đo | Ký hiệu | 1 | 2 | 3 | 4 |
| Cải thiện trình độ | tdphuhop | ||||
| Được cải thiện | tdcthien | 0,804 | |||
| Phù hợp với việc làm | tdvlam | 0,652 | |||
| Phù hợp với các mối quan hệ xã hội | tdqhe | 0,621 | |||
| Phù hợp với xu hướng xã hội | tdttruong | 0,608 | |||
| Thu nhập phù hợp | tnhapphuhop | ||||
| Phù hợp với năng lực | tnnluc | 0,790 | |||
| Phù hợp với nguyện vọng | tnnvong | 0,760 | |||
| Phù hợp với xu hướng thị trường | tnttruong | 0,560 | |||
| Thu nhập tốt | tnhaptot | ||||
| Tiết kiệm hỗ trợ được người thân | tnhap4 | 0,769 | |||
| Tiết kiệm hỗ trợ được bạn bè | tnhap5 | 0,743 | |||
| Nỗ lực ở lại | nolucolai | ||||
| Nâng cao trình độ, kinh nghiệm để thích nghi tốt hơn | csong4 | 0,861 | |||
| Tích cực làm việc để thích nghi tốt hơn | csong5 | 0,853 | |||
| Tích cực thay đổi bản thân để thích nghi tốt hơn | csong6 | 0,831 | |||
Kết quả phân tích nhân tố khẳng định có các chỉ số: Chi-square/df=1,957 (<3), GFI=0,805; TLI=0,860; CFI=0,878 (>0,80); RMSEA=0,049 (<0,50); tuy nhiên biến quan sát nhao2 có hệ số hồi qui không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% nên bị loại khỏi mô hình. Sau khi loại biến, các chỉ số được cải thiện hơn cho thấy mô hình tốt hơn và chấp nhận được, lần lượt là 1,828, 0,822, 0,881, 0,896 và 0,046.
Nghiên cứu tiếp tục thực hiện phân tích cấu trúc tuyến tính, kết quả ban đầu có các chỉ số đáp ứng yêu cầu nhưng một số biến chỉ báo có hệ số hồi qui không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% và lần lượt bị loại khỏi mô hình. Kết quả cuối cùng có các chỉ số kiểm định và hệ số hồi qui đáp ứng yêu cầu tại Figure 2, khi đó nghiên cứu tiếp tục thực hiện kiểm định Bootstrap và mặc dù còn 2 nhân tố có chỉ số CR>2, các nhân tố khác có CR<2, và do đó mô hình cấu trúc và dữ liệu thực tế về tổng thể là phù hợp tại Table 4.
Kết quả kiểm định Bootstrap
| Tham số | Hệ số | SE | SE-SE | Mean | Bias | SE-Bias | CR | ||
| HOANHAP | <--- | vlam | 0,487 | 0,107 | 0,005 | 0,497 | 0,010 | 0,008 | 1,25 |
| HOANHAP | <--- | nhaodapung | 0,174 | 0,077 | 0,004 | 0,178 | 0,004 | 0,005 | 0,80 |
| HOANHAP | <--- | xhhtro | 0,412 | 0,120 | 0,006 | 0,418 | 0,005 | 0,008 | 0,63 |
| NOLUCOLAI | <--- | HOANHAP | 2,071 | 0,786 | 0,039 | 2,232 | 0,160 | 0,056 | 2,86 |
| TNHAPPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,230 | 0,080 | 0,004 | 0,226 | -0,004 | 0,006 | -0,67 |
| TDOPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,343 | 0,084 | 0,004 | 0,344 | 0,001 | 0,006 | 0,17 |
| TNHAPTOT | <--- | NOLUCOLAI | 1,425 | 0,231 | 0,012 | 1,456 | 0,031 | 0,016 | 1,94 |
| NOLUCOLAI | <--- | TNHAPTOT | -1,884 | 0,737 | 0,037 | -2,035 | -0,151 | 0,052 | -2,90 |
Kết quả mô hình
Mô hình cấu trúc tối ưu với các hệ số hồi qui chuẩn hóa theo Figure 2.

Mô hình cấu trúc tối ưu với các hệ số hồi qui chuẩn hóa
Tác động trực tiếp
Tác động mạnh nhất giữa các mối quan hệ chính là mối quan hệ một chiều HOANHAP và NOLUCOLAI () theo Figure 2. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu người lao động hòa nhập cuộc sống càng tốt thì sẽ hành động tích cực hơn để ở lại Tp.HCM, như nỗ lực nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm, tích cực làm việc, tích cực thay đổi bản thân.
HOANHAP có tác động đến TNHAPPHUHOP, TDOPHUHOP, không tác động đến TNHAPTOT; ngược lại, NOLUCOLAI không tác động đến TNHAPPHUHOP, TDOPHUHOP, nhưng có tác động đến TNHAPTOT. Nếu người lao động hòa nhập cuộc sống tốt hơn thì thu nhập sẽ phù hợp với năng lực, nguyện vọng và xu hướng thị trường, và trình độ sẽ cải thiện, phù hợp với yêu cầu công việc, xã hội, cuộc sống; nhưng nếu người lao động nỗ lực nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm, tích cực làm việc, tích cực thay đổi bản thân để ở lại Tp.HCM thì thu nhập sẽ tốt hơn, có tiết kiệm hỗ trợ người thân, bạn bè.
NOLUCOLAI và TNHAPTOT có mối quan hệ tương hỗ (, ) tại Figure 2. Nếu người lao động càng nỗ lực nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm, tích cực làm việc, tích cực thay đổi bản thân để ở lại Tp.HCM thì thu nhập sẽ tốt hơn, có tiết kiệm để hỗ trợ người thân, bạn bè; ngược lại, khi người lao động có thu nhập tốt, có tiết kiệm để hỗ trợ người thân, bạn bè thì sẽ ít nỗ lực nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm, tích cực làm việc, tích cực thay đổi bản thân để ở lại Tp.HCM hơn.
HOANHAP bị tác động bởi vlam, nhaodapung, xhhtro, trong đó bị tác động mạnh nhất lần lượt là vlam (), xhhtro (), nhaodapung () tại Figure 2. Đối với người lao động Tp.HCM, để hòa nhập cuộc sống tốt hơn thì điều kiện và môi trường làm việc, chính sách phúc lợi và cơ hội việc làm là quan trọng nhất. Điều kiện chỗ ở lại ít quan trọng nhất, trái với quan niệm truyền thống “an cư lạc nghiệp”, cho thấy có thể người lao động đã thay đổi quan điểm sở hữu nhà hay nhà thuê theo hướng tích cực hơn, chấp nhận sinh sống trong không gian hẹp theo đặc thù của Tp.HCM. Đồng thời, hỗ trợ và giúp đỡ qua lại giữa người thân, bạn bè ít quan trọng như việc làm nhưng lại quan trọng hơn chỗ ở.
Tác động gián tiếp
Kết quả mô hình cấu trúc tối ưu cho thấy có hai tác động gián tiếp từ các khía cạnh cuộc sống (việc làm, nhà ở, hỗ trợ xã hội) đến kết quả cuộc sống (nỗ lực ở lại, thu nhập, trình độ) qua trung gian hòa nhập cuộc sống, trong đó tác động mạnh nhất lần lượt đến thu nhập tốt, nỗ lực ở lại, trình độ phù hợp và thu nhập phù hợp theo Figure 2. Cụ thể như sau:
Các khía cạnh cuộc sống - nỗ lực ở lại: (0,41+0,17+0,49)*2,07=2,22
Các khía cạnh cuộc sống - thu nhập tốt: (0,41+0,17+0,49)*2,07*1,42=3,15
Các khía cạnh cuộc sống - thu nhập phù hợp: (0,41+0,17+0,49)*0,23=0,25
Các khía cạnh cuộc sống - trình độ phù hợp: (0,41+0,17+0,49)*0,34=0,36
Hòa nhập cuộc sống - thu nhập tốt: 2,07*1,42=2,94
Khác biệt theo nhóm
Nhóm lao động nhập cư và lao động địa phương
| MH khả biến | MH bất biến | LĐNC | Hệ số | P | ||||
| Chi-square | 916,441 | 928,663 | NOLUCOLAI | <--- | HOANHAP | 1,339 | 0,960 | *** |
| df | 484 | 488 | TNHAPPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,120 | 0,064 | 0,13 |
| Chênh lệch | TDOPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,298 | 0,188 | *** | ||
| Chi-square | 12,222 | TNHAPTOT | <--- | NOLUCOLAI | 1,096 | 1,482 | *** | |
| df | 4 | NOLUCOLAI | <--- | TNHAPTOT | -1,183 | -0,875 | *** | |
| p-value | 0,016 | LĐĐP | Hệ số | P | ||||
| NOLUCOLAI | <--- | HOANHAP | 8,494 | 3,043 | 0,294 | |||
| TNHAPPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,439 | 0,164 | 0,027 | |||
| TDOPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,395 | 0,126 | 0,032 | |||
| TNHAPTOT | <--- | NOLUCOLAI | 2,579 | 3,009 | 0,003 | |||
| NOLUCOLAI | <--- | TNHAPTOT | -7,368 | -6,314 | 0,286 | |||
Chi-square có p-value=0,016<0,05 nên mô hình khả biến sẽ được chọn tại Table 5. Kết quả cho thấy hòa nhập cuộc sống và thu nhập tốt có ý nghĩa tác động đến nỗ lực ở lại trong trường hợp nhóm LĐNC nhưng không có ý nghĩa tác động đối với nhóm LĐĐP, đồng thời mức độ tác động giữa các nhân tố khác của nhóm LĐNC đều thấp hơn nhóm LĐĐP (0,12, 0,29 và 1,09 đối với nhóm LĐNC, 0,39, 0,43 và 2,57 đối với nhóm LĐĐP) tạiTable 5. Một cách khái quát, trong điều kiện tình trạng cuộc sống hay hòa nhập cuộc sống là như nhau, kết quả cuộc sống của nhóm LĐNC luôn thấp hơn nhóm LĐĐP.
Nhóm lao động nhập cư dưới 10 năm và trên 10 năm
| MH khả biến | MH bất biến | Nhóm dưới 10 năm | Hệ số | P | Label | ||||
| Chi-square | 795,864 | 805,561 | NOLUCOLAI | <--- | HOANHAP | 1,365 | 0,902 | *** | c |
| df | 484 | 489 | TNHAPPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,149 | 0,080 | 0,042 | a |
| Chênh lệch | TDOPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,253 | 0,143 | 0,003 | |||
| TNHAPTOT | <--- | NOLUCOLAI | 1,051 | 1,444 | *** | e | |||
| Chi-square | 9,697 | NOLUCOLAI | <--- | TNHAPTOT | -1,110 | -0,808 | *** | d | |
| df | 5 | Nhóm trên 10 năm | Hệ số | P | Label | ||||
| p-value | 0,084 | NOLUCOLAI | <--- | HOANHAP | 0,591 | 0,902 | *** | c | |
| TNHAPPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,120 | 0,080 | 0,042 | a | |||
| TDOPHUHOP | <--- | HOANHAP | 0,120 | 0,143 | 0,003 | ||||
| TNHAPTOT | <--- | NOLUCOLAI | 1,072 | 1,444 | *** | e | |||
| NOLUCOLAI | <--- | TNHAPTOT | -1,088 | -0,808 | *** | d | |||
Chi-square có p-value=0,08>0,05 nên mô hình bất biến sẽ được chọn theo Table 6. Kết quả cho thấy các hệ số hồi qui đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% đối với cả 2 nhóm, và mức độ tác động giữa các nhân tố đối với nhóm LĐNC dưới 10 năm so với nhóm trên 10 năm là có cao hơn nhưng không đáng kể, đồng thời nhóm LĐNC mới sẽ nỗ lực nhiều hơn nhóm LĐNC lâu năm (1,37 và 0,59) theo Table 6.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng tình trạng cuộc sống, hòa nhập cuộc sống và nỗ lực ở lại có mối quan hệ đa chiều là phù hợp với kết luận của Dustmann và Gorlach (2016). Nghiên cứu kỳ vọng rằng tình trạng cuộc sống có tác động đến hòa nhập cuộc sống (H) nhưng kết quả cho thấy khái niệm tình trạng cuộc sống nếu được phản ánh bằng việc làm, nhu cầu nhà ở được đáp ứng và hỗ trợ xã hội là có tác động đến hòa nhập cuộc sống; và phản ánh bằng chi phí nhà ở, giáo dục, y tế, giao thông, giải trí, cảnh quan, quan hệ xã hội, con người ở nơi đến sẽ không có tác động đến hòa nhập cuộc sống. Kết quả này là trái với nghiên cứu của Adul và Muhmin (2010) và Ren và Folmer (2016), kết quả này có thể được lý giải bởi các đặc trưng của Tp.HCM, đây là đô thị lớn của cả nước, hội đủ các điều kiện giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng đảm bảo điều kiện sinh sống tốt nhất, và do đó các hàng hóa - dịch vụ công này không còn là vấn đề của hòa nhập cuộc sống, đồng thời người lao động cũng chấp nhận tình trạng quá tải về hàng hóa - dịch vụ công và đổi lại là chất lượng dịch vụ khi lựa chọn đến đây sinh sống và làm việc ở Tp.HCM. Ngoài ra, đây cũng là thành phố năng động nhất nên mức độ cạnh tranh kèm theo áp lực cuộc sống cũng cao hơn, và do đó việc thường xuyên liên lạc với người thân, bạn bè và tham gia các hoạt động xã hội cũng bị hạn chế, người lao động sẽ tập trung vào nỗ lực để thích nghi hơn là gắn kết các mối quan hệ xã hội, con người. Bên cạnh đó, kết quả chứng minh vai trò của việc làm và nhà ở trong cuộc sống của LĐNC là đồng nhất với nghiên cứu của Loc và cộng sự. (2013) và OECD và EU (2018) về việc làm, Ngan và Pincus (2011) về tài sản, Liu và cộng sự. (2016) về nhà ở.
Tuy nhiên, giả thuyết ý định ở lại lâu dài có tác động đến hòa nhập cuộc sống (H) là không được chấp nhận và trái với kết luận của Dustmann và Gorlach (2016), giả thuyết ý định ở lại lâu dài có tác động đến thu nhập (H) được chấp nhận. Khái niệm ý định ở lại lâu dài chỉ được phản ánh bằng hành vi tích cực thay đổi để ở lại nhưng không được phản ánh bằng hành vi kêu gọi hay hỗ trợ người thân, bạn bè sinh sống ở Tp.HCM và do đó khái niệm này được đặt tên lại là nỗ lực ở lại. Kết quả cho thấy hành vi nỗ lực để ở lại của người lao động vì mục tiêu thu nhập nhưng không vì mục tiêu hòa nhập. Bên cạnh đó, kết quả còn cho thấy nỗ lực ở lại bị tác động ngược lại bởi thu nhâp tốt nhưng là nghịch chiều và trái với giả thuyết (H), nghĩa là người lao động có thu nhập tốt sẽ ít nỗ lực ở lại hơn. Khái niệm thu nhập tốt được phản ánh bằng thu nhập có tiết kiệm được để hỗ trợ người thân, bạn bè, và do đó người lao động khi đạt mức thu nhập này sẽ không cần nỗ lực thêm để ở lại hoặc sẽ muốn tiếp tục di cư hay quay về. Kết quả này là phù hợp với kết luận của Loc và cộng sự (2017).
Kết quả còn chứng minh tình trạng cuộc sống, trong đó bao gồm việc làm, có tác động tương đối mạnh đến nỗ lực ở lại là cũng phù hợp với kết luận của Loc và cộng sự (2017). Ngoài ra khi so sánh các nhóm, kết quả cho thấy nhóm LĐNC mới sẽ nỗ lực nhiều hơn nhóm lâu năm để nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm, tích cực làm việc, tích cực thay đổi bản thân để ở lại. Kết quả này là phù hợp với kết luận của Chiswick (1978), Borjas (2014), Dustmann và Gorlach (2016) về đầu tư vốn con người của LĐNC khi mới đến.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Kết luận
Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính đã chứng minh tình trạng cuộc sống bao gồm việc làm, đáp ứng nhu cầu nhà ở và hỗ trợ xã hội có tác động đến hòa nhập cuộc sống, và hòa nhập cuộc sống có tác động mạnh nhất đến nỗ lực ở lại và cũng có tác động đến thu nhập tốt và trình độ phù hợp, đồng thời, nỗ lực ở lại và thu nhập tốt có mối quan hệ tác động qua lại. Ngoài ra qua trung gian hòa nhập cuộc sống, tình trạng cuộc sống có tác động gián tiếp mạnh nhất lần lượt đến thu nhập tốt, nỗ lực ở lại, trình độ phù hợp và thu nhập phù hợp. Kết quả phân tích đa nhóm cũng cho thấy có sự khác biệt tình trạng cuộc sống giữa nhóm LĐNC và LĐĐP nhưng không có khác biệt giữa nhóm LĐNC dưới 10 năm và trên 10 năm, trong đó các kết quả cuộc sống của nhóm LĐNC luôn thấp hơn nhóm LĐĐP, và nhóm LĐNC dưới 10 năm luôn nỗ lực nhiều hơn nhóm trên 10 năm. Một cách khái quát, việc làm, nhà ở và hỗ trợ xã hội có ý nghĩa quan trọng, vì vậy giải quyết các nhu cầu này cho nhóm LĐNC Tp.HCM là rất cần thiết.
Hàm ý chính sách
Về việc làm và hỗ trợ xã hội
Tăng cường phổ biến thông tin việc làm miễn phí để tăng cơ hội tiếp cận việc làm cho LĐNC. Trong xu thế phát triển công nghệ, cần thiết lập và vận hành kênh thông tin việc làm nhằm kết nối giữa nhà tuyển dụng và người lao động, tương tự như Beetaskee, Jobviec,… nhưng cần đa dạng hóa ngành nghề, bao gồm cả công việc tay nghề, trí óc hơn là đơn thuần công việc phổ thông như hiện nay.
Xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án tương tự như dự án Nâng cao năng lực tìm việc làm cho sinh viên nhập cư giai đoạn 2 phối hợp giữa Trung tâm Dịch vụ việc làm thanh niên Cần Thơ phối hợp với Tổ chức Save the Children International (SCI) nhằm hỗ trợ các kỹ năng tham gia thị trường lao động, kỹ năng nghề nghiệp để LĐNC nắm bắt cơ hội việc làm thành công.
Thiết lập và vận hành kênh đối thoại ở cấp chính quyền và cấp doanh nghiệp về việc làm nhằm tăng cường đối thoại giữa người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan pháp luật nhằm giúp chia sẽ thông tin, gắn kết hơn và giảm thiểu tranh chấp lao động, cải thiện điều kiện và môi trường làm việc.
Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án tương tự như dự án Tạo cơ hội việc làm bền vững và cộng đồng an toàn cho nữ thanh niên nhập cư tại Hà Nội nhằm hỗ trợ việc làm bền vững, ưu tiên cho các nhóm lao động nữ nhập cư - nhóm lao động chịu thiệt thòi và dễ gặp rủi ro trong cuộc sống.
Ưu tiên cho vay vốn, ưu đãi thuế, ưu đãi đất trong trường hợp doanh nghiệp có sử dụng và tạo việc làm cho LĐNC, đầu tư xây dựng khu trường học, khu vui chơi… ưu tiên cho LĐNC,…; hình thành các hợp tác xã góp vốn giữa các LĐNC và xoay vòng vốn cho vay cho các dự án khởi nghiệp được đánh giá là tiềm năng.
Về nhà ở
Tăng cường phổ biến thông tin đến người lao động, đặc biệt là nhóm LĐNC về các chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo lập nhà ở nhằm tạo cơ hội tham gia bình đẳng giữa các đối tượng.
Hỗ trợ tạo lập nhà ở cũng làm tăng gánh nặng ngân sách, do đó nhà nước có thể phối hợp cùng doanh nghiệp xây dựng nhà ở với giá bán - cho thuê ưu đãi, đồng thời nhà nước ưu tiên cho vay vốn hay ưu đãi thuế, ưu đãi đất trong trường hợp doanh nghiệp tự đầu tư xây dựng khu lưu trú cho người cho người lao động.
Tăng cường hiệu quả quản lý thị trường nhà cho thuê, giám sát giá cả nhà thuê, bao gồm cả việc thu phí sinh hoạt như điện nước của chủ nhà thuê để bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động khi thuê nhà.
Xây dựng chung cư mini bán hay cho thuê là xu hướng phổ biến hiện nay ở Tp.HCM, do đó nhà nước cần hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tư nhân tự đầu tư xây dựng chung cư mini đảm bảo tiêu chuẩn sinh sống và làm việc cho người lao động.
Với cơ chế tạo điều kiện về việc làm, hỗ trợ xã hội và nhà ở thuận lợi, LĐNC chỉ còn tập trung tích lũy vốn con người để đáp ứng cơ chế sàng lọc của thị trường lao động và thích nghi với cuộc sống ở Tp.HCM, khi đó chất lượng lao động cũng sẽ được nâng cao góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Nghiên cứu làm rõ khía cạnh cuộc sống phản ánh tình trạng của LĐNC và đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp từ tình trạng này đến hòa nhập cuộc sống, kết quả thay đổi thu nhập và trình độ, nỗ lực ở lại của nhằm làm luận cứ xây dựng chính sách khuyến khích tác động tích cực từ LĐNC. Trong giới hạn nguồn lực, nghiên cứu chỉ thực hiện được khảo sát phân tầng theo quận huyện và khảo sát ngẫu nhiên theo đối tượng tiếp cận được, và khái niệm thay đổi trình độ hay đầu tư vốn con người chưa được phản ánh chi tiết rõ ràng như các khái niệm khác.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LĐNC: Lao động nhập cư
LĐĐP: Lao động địa phương
Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
CIMI: The Canadian Index for Measuring Integration
IIM: The Immigrant Integration Model
SEM: Structure Equation Modelling
TUYÊN BỐ VỀ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm tác giả xin cam đoan rằng không có bất kỳ xung đột lợi ích nào trong công bố bài báo.
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Tác giả Nguyễn Hồng Nga và Nguyễn Thị Thu Trang có đóng góp như nhau trong việc thực hiện bài báo nghiên cứu, trong đó tác giả Nguyễn Thị Thu Trang chịu trách nhiệm chính về nội dung toàn bài báo. Tác giả Nguyễn Hồng Nga: xây dựng khung nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, tổng quan nghiên cứu; tác giả Nguyễn Thị Thu Trang: xây dựng mô hình nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu, viết kết quả nghiên cứu.