Some antecedents and outcomes of informal learning behavior in a virtual team
- School of Industrial Management – HCMC University of Technology (VNU-HCM)
Abstract
Virtual teams are commonly used in businesses to meet employees’ needs for teleworking. Meanwhile, informal learning is a social phenomenon that influences work outcomes in learning organizations. Understanding informal learning behavior with its important antecedents and outcomes is necessary, especially in the context of teleworking via electronic communication media as virtual teams. This paper proposes and examines a structured model that describes the relationships among employee-coworker relationship quality, psychological empowerment, informal learning behavior, job performance, and job satisfaction of virtual team members. The results show a positive relationship between ((i) job performance and job satisfaction, (ii) informal learning behavior and job performance, (iii) psychological empowerment and informal learning behavior, (iv) employee-coworker relationship quality and psychological empowerment. The employee-coworker relationship quality, psychological empowerment, and informal learning behavior can explain 30.3% of the variance of job performance, indicating the role of informal learning behavior and its antecedents on the work outcomes of virtual team members.
Đặt vấn đề
Đội ảo là cách sắp xếp công việc mà các thành viên bị phân tán địa lý, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, làm việc phụ thuộc lẫn nhau thông qua phương tiện truyền thông điện tử nhằm đạt mục tiêu chung1. Đội ảo được cho là cách hữu hiệu để làm gia tăng kết quả làm việc và đang ngày càng được sử dụng phổ biến trong doanh nghiệp2. Mặc dù đội ảo hứa hẹn thay thế đội truyền thống, nhưng trong một số trường hợp, kết quả làm việc theo đội ảo vẫn chưa như mong đợi3. Vì vậy, nâng cao kết quả làm việc của thành viên đội ảo là vấn đề đáng quan tâm.
Hoạt động đào tạo và phát triển của doanh nghiệp ngày nay chuyển từ trọng tâm “đào tạo” sang trọng tâm “học tập”, làm gia tăng sự quan tâm nghiên cứu về hiện tượng học tập không chính thức4, tức là học tập từ công việc, một hình thức được sử dụng thường xuyên nhất tại nơi làm việc5. Học tập không chính thức tại nơi làm việc đề cập đến các hành động và suy nghĩ lặp đi lặp lại, mang tính tự phát hoặc có chủ ý, diễn ra dưới hình thức tự học tập, học tập cùng nhau, học tập từ nhau, nhằm thu nhận kiến thức và kỹ năng một cách không chính thức trong lúc đang làm việc6. Thứ nhất, theo Jeong & cộng sự6, học tập không chính thức ở cấp độ đội liên quan đến các quá trình năng động xã hội giữa các cá nhân trong đội, chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ giữa các thành viên, trong đó có mối quan hệ ngang hàng giữa các đồng nghiệp với nhau. Trong số nhiều yếu tố đề cập đến mối quan hệ ngang hàng giữa các đồng nghiệp, chất lượng quan hệ với đồng nghiệp là nhận thức của mỗi cá nhân về các trao đổi xã hội mà người đó có được với đồng nghiệp, liên quan đến sự đóng góp qua lại của các ý tưởng, phản hồi, hỗ trợ7, còn sự trao quyền tâm lý là nhận thức của mỗi cá nhân về việc có thể chủ động định hình vai trò của mình trong công việc, được phản ánh bởi 04 khía cạnh: ý nghĩa, năng lực, tác động, tự quyết8. Thứ hai, theo Cerasoli, Alliger9, thành quả công việc (kết quả về mặt nhiệm vụ) và sự hài lòng công việc (kết quả về mặt thái độ) là 02 trong số các kết quả quan trọng của hành vi học tập không chính thức.
Nghiên cứu về hành vi học tập không chính thức là cần thiết, đặc biệt là khi các cá nhân phải làm việc từ xa thông qua phương tiện truyền thông điện tử. Tuy nhiên, các bài tổng hợp lý thuyết gần đây về học tập không chính thức (ví dụ: 9, 6) cho thấy hiện nay còn ít nghiên cứu thực nghiệm về hành vi này và các tiền tố, các kết quả của nó trong bối cảnh của các tổ chức học tập. Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là hành vi học tập không chính thức của các thành viên đội ảo chịu ảnh hưởng như thế nào bởi các tiền tố (như chất lượng quan hệ với đồng nghiệp, sự trao quyền tâm lý) và ảnh hưởng như thế nào lên các kết quả (như thành quả công việc, sự hài lòng công việc)? Bài báo này được tiến hành để trả lời câu hỏi trên.
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên lý thuyết về động lực nhóm10, lý thuyết học tập xã hội11, lý thuyết tổ chức học tập12, lý thuyết trao đổi xã hội13, các bài tổng hợp lý thuyết của Jeong, Han6 và Cerasoli, Alliger9 , bài báo này tập trung vào mục tiêu đề xuất và kiểm định một mô hình có cấu trúc mô tả ảnh hưởng của chất lượng quan hệ với đồng nghiệp, sự trao quyền tâm lý, hành vi học tập không chính thức, thành quả công việc và sự hài lòng công việc của thành viên đội ảo (xem Figure 1 – mô hình nghiên cứu sau khi đã kiểm định). Các giả thuyết nghiên cứu được biện luận sau đây:
Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp
Khi các thành viên trong đội có cơ hội tham gia vào quyết định chung thì được tăng cường sức mạnh tâm lý15, 14. Nếu các thành viên có quyền truy cập vào tài nguyên bên trong và bên ngoài đội, bên trong và bên ngoài tổ chức, sự trao quyền tâm lý được tăng cường16. Khi đội được hỗ trợ về mặt chính trị xã hội và có thể phối hợp với đội khác, các thành viên sẽ trải nghiệm sự trao quyền tâm lý ở mức độ cao hơn17. Những người được cung cấp nguồn lực, công cụ, được khuyến khích, hỗ trợ cảm xúc từ đồng nghiệp sẽ được cải thiện sự trao quyền tâm lý18. Sự hợp tác đa kênh có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa đối với sự trao quyền tâm lý19. Sự năng động của các mối quan hệ dẫn đến sự trao quyền tâm lý trong đội 20. Các mối quan hệ có chất lượng cao sẽ đóng góp đáng kể vào sự trao quyền tâm lý trong bối cảnh làm việc căng thẳng21. Do đó, có cơ sở hình thành giả thuyết (H1) Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp ảnh hưởng tích cực lên sự trao quyền tâm lý của thành viên đội ảo.
Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp và học tập không chính thức
Mối quan hệ giữa các cá nhân là phương tiện cho các quá trình và kết quả học tập không chính thức23, 22. Vì nhân viên vốn dĩ thích giao tiếp và chia sẻ thông tin tự do với nhau, nên những mối quan hệ chuyên nghiệp sẽ tạo điều kiện cho học tập không chính thức6. Học tập không chính thức được thúc đẩy bởi sự hỗ trợ từ lãnh đạo và đồng nghiệp25, 24. Các hoạt động xây dựng quan hệ như tiệc trà, tán gẫu hay họp chuyên môn cũng đồng thời giúp tăng cường hành vi học tập không chính thức28, 27, 26. Do đó, có cơ sở hình thành giả thuyết (H2) Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp ảnh hưởng tích cực lên hành vi học tập không chính thứccủa thành viên đội ảo.
Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp và thành quả công việc
Theo Sherony & Green29, một số nghiên cứu về sự trao đổi với đồng đội31, 30 và sự trao đổi trong nhóm làm việc32 cho thấy sự trao đổi với đồng đội và sự trao đổi trong nhóm làm việc có liên quan tích cực tới thành quả công việc của thành viên trong đội. Thành quả công việc được tăng cường khi các thành viên phát triển quan hệ bạn bè và liên minh với nhau33. Tồn tại ảnh hưởng tích cực của tương tác ngang hàng giữa nhân viên với đồng nghiệp lên thành quả công việc35, 34, 21. Trong bối cảnh đội ảo, các thành viên phải thực hiện nhiệm vụ từ xa và gián tiếp thông qua phương tiện truyền thông điện tử nên càng đòi hỏi thông tin thông suốt và sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau 36 và việc thiếu thông tin, thiếu cộng tác và phối hợp, thiếu tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên đội ảo có thể khiến họ làm việc kém hiệu quả1. Do đó, có cơ sở hình thành giả thuyết (H3) Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp ảnh hưởng tích cực lên thành quả công việc của thành viên đội ảo.
Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp và sự hài lòng công việc
Tồn tại mối liên hệ tích cực giữa sự hỗ trợ của đồng nghiệp và sự hài lòng công việc40, 39, 38, 37. Quan hệ giữa các thành viên trong đội có thể ảnh hưởng đến cách mà họ cảm nhận về đội và về công việc42, 41. Đội ảo gồm các thành viên cách ly về địa lý, có thể đa dạng về các đặc điểm nhân khẩu học và các đặc điểm không quan sát được như giá trị, tính cách, dẫn đến khó khăn khi phối hợp, giảm tin cậy và thiếu hội nhập xã hội44, 43. Khi chất lượng quan hệ với đồng nghiệp tăng, có thể kỳ vọng các thành viên cảm thấy hài lòng hơn45. Do đó, có cơ sở hình thành giả thuyết (H4) Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp ảnh hưởng tích cực lên sự hài lòng công việc của thành viên đội ảo.
Sự trao quyền tâm lý và học tập không chính thức
Sự trao quyền tâm lý là một hiện tượng có liên quan nhiều đến học tập không chính thức6. Những đồng nghiệp có học thức sẽ đóng vai trò tạo cơ hội học tập không chính thức, tạo không gian học tập không chính thức, là người phát triển, làm hình mẫu, khuyến khích chấp nhận rủi ro, hiểu được tầm quan trọng của việc chia sẻ kiến thức và phát triển người khác, đưa ra phản hồi và sự công nhận46. Sự hỗ trợ của đồng nghiệp được chứng minh là tạo điều kiện cho học tập không chính thức48, 47, 25. Ngoài ra, có bằng chứng cho thấy học tập không chính thức tăng lên khi các cá nhân có nhiều lựa chọn hơn49 và tự chủ hơn46. Do đó, có cơ sở hình thành giả thuyết (H5) Sự trao quyền tâm lý ảnh hưởng tích cực lên hành vi học tập không chính thức của thành viên đội ảo.
Học tập không chính thức và thành quả công việc
Tồn tại ảnh hưởng tích cực của học tập không chính thức lên kết quả làm việc, bao gồm nâng cao năng suất và tiết kiệm chi phí của tổ chức, đồng thời nâng cao kiến thức, kỹ năng của nhân viên51, 50. Tham gia các hoạt động học tập không chính thức giúp nhân viên củng cố niềm tin hoặc thay đổi quan điểm52, có nhiều kiến thức mới, thực tế hơn53, 48, tăng cường khả năng thích ứng với thay đổi, từ đó tăng thành quả công việc 57, 56, 55, 54. Do đó, có cơ sở hình thành giả thuyết (H6) Hành vi học tập không chính thứcảnh hưởng tích cực lên thành quả công việc của thành viên đội ảo.
Thành quả công việc và sự hài lòng công việc
Sự hài lòng công việc là kết quả của thành quả công việc58. Nhiều học giả cho rằng thái độ theo sau hành vi, và mối quan hệ nhân quả của thành quả công việc và sự hài lòng công việc xuất phát từ giả định rằng thành quả công việc dẫn đến những kết quả có giá trị hay những phần thưởng khiến các cá nhân cảm thấy hài lòng (xem:67, 66, 65, 64, 63, 62, 61, 60, 59). Do đó, có cơ sở hình thành giả thuyết (H7) Thành quả công việc ảnh hưởng tích cực lên sự hài lòng công việc của thành viên đội ảo.
Phương pháp nghiên cứu
Bảng câu hỏi trình bày 02 câu hỏi về thông tin nhân khẩu (độ tuổi, vị trí trong đội) và 39 câu hỏi đo lường được kế thừa từ các nghiên cứu đi trước và hiệu chỉnh bằng phỏng vấn sơ bộ (xem Table 2). Sử dụng thang Likert 5 điểm cho các câu hỏi đo lường. Tiến hành nghiên cứu định lượng với mẫu được lấy thuận tiện phi xác suất, cỡ mẫu 177 gồm các thành viên đội ảo thuộc các doanh nghiệp có cơ sở tại Việt Nam, đạt yêu cầu cho phân tích PLS-SEM 68. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS và SmartPLS qua các bước: (1) thống kê mô tả, (2) kiểm định sơ bộ độ tin cậy và độ giá trị của thang đo bằng Cronbach’s Alpha và EFA (phép quay Promax), (3) kiểm định mô hình đo lường và mô hình cấu trúc bằng CFA và SEM.
Kết quả nghiên cứu
Thống kê mô tả
Trong số 177 mẫu hợp lệ thu được từ 06 doanh nghiệp có cơ sở tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, có 20 đáp viên sinh trước 1965 (11,3%), 83 đáp viên thuộc thế hệ X (46,9%), 62 đáp viên thuộc thế hệ Y (35%), 12 đáp viên thuộc thế hệ Z (6,8%); có 37 đáp viên là trưởng đội (20,9%) và 140 đáp viên là thành viên bình thường của đội (79,1%) (xem Table 1).
Mô tả mẫu
| Doanh nghiệp | Địa điểm | Số mẫu hợp lệ | Độ tuổi | Tổng | Vị trí trong đội | Tổng | ||||
| Trước 1965 | X | Y | Z | Trưởng đội | Thành viên | |||||
| 1 | TP.HCM | 42 | 4 | 21 | 15 | 2 | 42 | 4 | 38 | 42 |
| 2 | TP.HCM | 36 | 3 | 15 | 14 | 4 | 36 | 6 | 30 | 36 |
| 3 | TP.HCM | 28 | 2 | 14 | 9 | 3 | 28 | 5 | 23 | 28 |
| 4 | TP.HCM | 24 | 5 | 11 | 7 | 1 | 24 | 8 | 16 | 24 |
| 5 | Bình Dương | 30 | 4 | 14 | 12 | 0 | 30 | 12 | 18 | 30 |
| 6 | Đồng Nai | 17 | 2 | 8 | 5 | 2 | 17 | 2 | 15 | 17 |
| Tổng | 177 | 20 | 83 | 62 | 12 | 177 | 37 | 140 | 177 | |
Kiểm định thang đo và mô hình
Từ 39 biến đo lường, phân tích Cronbach’s Alpha, lần lượt loại 13 biến do tương quan biến – tổng < 0,3 và hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo tăng khi loại biến. Còn 26 biến, chạy EFA 02 lần, loại 01 biến do tải lên 02 nhân tố với hiệu số tải < 0,3, tập dữ liệu còn 25 biến có hệ số tải đều > 0,7, KMO = 0,788 [0,5;1] (p = 0,000 < 0,05). Có 08 nhân tố hình thành với hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo đều > 0,7. Tổng phương sai trích = 76,013% > 50%, giải thích tương đối tốt sự biến thiên của dữ liệu69. Phân tích CFA cho 08 nhân tố bậc 01, loại 01 biến do hệ số outer loading < 0,5, 24 biến còn lại có hệ số outer loading từ 0,718 à 0,951 đều > 0,7 (p < 0,05), phương sai trích trung bình (AVE) của các nhân tố đều > 0,5 nên thang đo đạt độ giá trị hội tụ70, và hệ số tin cậy tổng hợp (CR) của các nhân tố đều > 0,7 nên thang đo đạt độ tin cậy68 (xem Table 2).
Kiểm tra độ tin cậy và độ hội tụ của thang đo
| Nhân tố | Mã hóa | Nguồn gốc thang đo | Số biến ban đầu | Số biến sau phỏng vấn sơ bộ | EFA | CFA | |||||
| Số biến còn lại | Hệ số tải | Số biến còn lại | CR | AVE | |||||||
| Chất lượng quan hệ với đồng nghiệp | ECRQ | 7 | 07 | 08 | 05 | 0,756 à 0,809 | 05 | 0,8886 | 0,6074 | ||
| Sự trao quyền tâm lý | Ý nghĩa | EMP | MEAN | 8 | 03 | 03 | 03 | 0,859 à 0,861 | 03 | 0,8568 | 0,7466 |
| Năng lực | COMP | 03 | 03 | 02 | 0,855; 0,873 | 02 | 0,9030 | 0,7503 | |||
| Tác động | IMP | 03 | 03 | 02 | 0,860; 0,871 | 02 | 0,7101 | 0,7602 | |||
| Tự quyết | SELF | 03 | 03 | 02 | 0,899; 0,907 | 02 | 0,9385 | 0,8272 | |||
| Học tập không chính thức | LEARN | 71 | 08 | 08 | 04 | 0,868 à 0,901 | 04 | 0,8947 | 0,7416 | ||
| Thành quả công việc | JP | 72 | 07 | 07 | 04 | 0,871 à 0,902 | 03 | 0,7832 | 0,5977 | ||
| Sự hài lòng công việc | JS | 7 | 03 | 04 | 03 | 0,837 à 0,895 | 03 | 0,8708 | 0,7601 | ||
| Tổng số biến | 37 | 39 | 25 | 24 | |||||||
AVE của mỗi nhân tố (trên đường chéo) lớn hơn bình phương hệ số tương quan giữa nhân tố đó với các nhân tố khác, thang đo đạt độ giá trị phân biệt 69 (xem Table 3).
Kiểm tra độ phân biệt của thang đo
| Nhân tố | JP | JS | LEARN | ECRQ | MEAN | COMP | IMP | SELF | |
| JP | 0,5977 | ||||||||
| JS | 0,0596 | 0,7601 | |||||||
| LEARN | 0,2865 | 0,0515 | 0,7416 | ||||||
| ECRQ | 0,0265 | 0,0007 | 0,0056 | 0,6074 | |||||
| MEAN | 0,0454 | 0,0013 | 0,0510 | 0,0507 | 0,7466 | ||||
| COMP | 0,0115 | 0,0062 | 0,0233 | 0,0133 | 0,0588 | 0,7503 | |||
| IMP | 0,0027 | 0,0000 | 0,0062 | 0,0501 | 0,0760 | 0,0732 | 0,7602 | ||
| SELF | 0,0090 | 0,0036 | 0,0325 | 0,0276 | 0,1196 | 0,1199 | 0,1196 | 0,8272 | |
Kết quả phân tích SEM như Figure 1, giá trị SRMR = 0,0767 < 0,1 nên mô hình phù hợp với dữ liệu nghiên cứu73, 03 nhân tố ECRQ, EMP và LEARN giải thích được R= 30,3% biến thiên của JP. Phân tích bootstrapping lặp lại 5.000 lần kết quả, hệ số gốc và giá trị trung bình đều nằm trong khoảng tin cậy 95%, các ước lượng trong mô hình là đáng tin cậy. Có 03/07 giả thuyết bị bác bỏ do |t-value| < 1,96 (xem Table 4).
Kết quả bootstrapping và kiểm định giả thuyết
| Quan hệ | Giả thuyết | Hệ số gốc | Trung bình | SE | t-value | 2,5% | 97,5% | Kết luận |
| ECRQ → EMP | H1 | 0,2690 | 0,2783 | 0,0939 | 2,8657 | 0,0531 | 0,4366 | Ủng hộ |
| ECRQ → LEARN | H2 | 0,0195 | 0,0232 | 0,1032 | 0,1885 | -0,1828 | 0,2281 | Bác bỏ |
| ECRQ → JP | H3 | 0,1279 | 0,1300 | 0,0678 | 1,8879 | -0,0079 | 0,2649 | Bác bỏ |
| ECRQ → JS | H4 | -0,0150 | -0,0190 | 0,0931 | -0,1613 | -0,2059 | 0,1594 | Bác bỏ |
| EMP → LEARN | H5 | 0,2348 | 0,2462 | 0,0806 | 2,9122 | 0,0753 | 0,3911 | Ủng hộ |
| LEARN → JP | H6 | 0,5246 | 0,5306 | 0,0667 | 7,8606 | 0,3971 | 0,6507 | Ủng hộ |
| JP → JS | H7 | 0,2470 | 0,2569 | 0,0820 | 3,0105 | 0,0967 | 0,4139 | Ủng hộ |

Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính.
Kết luận và kiến nghị
Thảo luận kết quả
Dựa trên lý thuyết về động lực nhóm10, lý thuyết học tập xã hội11, lý thuyết tổ chức học tập12, lý thuyết trao đổi xã hội13, các bài tổng hợp lý thuyết của Jeong, Han 6 và Cerasoli, Alliger9, bài báo này đề xuất một mô hình nghiên cứu có cấu trúc, mô tả mối quan hệ của chất lượng quan hệ với đồng nghiệp, sự trao quyền tâm lý, học tập không chính thức, thành quả công việc và sự hài lòng công việc của thành viên đội ảo. Từ mô hình nghiên cứu đề xuất, kết quả khảo sát định lượng trên 177 mẫu thu được từ 06 doanh nghiệp có cơ sở tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai đã giúp khẳng định tầm quan trọng của học tập không chính thức và các tiền tố của nó đối với kết quả làm việc của thành viên đội ảo.
Thứ nhất, thành quả công việc (kết quả về mặt nhiệm vụ) có ảnh hưởng tích cực lên sự hài lòng công việc (kết quả về mặt thái độ) (H7, β = 0,2470), cho thấy trong bối cảnh làm việc từ xa thông qua phương tiện truyền thông điện tử, đánh giá của thành viên đội ảo về những gì mà họ đóng góp cho đội thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ sẽ ảnh hưởng tích cực lên đánh giá của họ về khả năng mà công việc trong đội đáp ứng các nhu cầu của họ. Thứ hai, chất lượng quan hệ với đồng nghiệp ảnh hưởng tích cực lên sự trao quyền tâm lý (H1, β = 0,2690), cho thấy việc tăng cường chia sẻ, tôn trọng, cư xử có qua có lại giữa các thành viên trong đội ảo sẽ giúp họ cảm nhận tốt hơn về ý nghĩa và năng lực bản thân, khả năng tác động và quyền tự quyết trong đội ảo. Thứ ba, sự trao quyền tâm lý ảnh hưởng tích cực lên hành vi học tập không chính thức (H5, β = 0,2348) trong khi đó giả thuyết (H2) không được ủng hộ, cho thấy trong bối cảnh đội ảo, chất lượng mối quan hệ giữa các thành viên không ảnh hưởng lên mức độ mà họ học tập, mà chính những cảm nhận của họ về vai trò của bản thân trong đội mới có dẫn tới việc học tập. Tương tự, các giả thuyết (H3), (H4) không được ủng hộ cũng làm giảm nhẹ tầm quan trọng của chất lượng mối quan hệ giữa các thành viên khi họ làm việc trong đội ảo. Thứ tư, hành vi học tập không chính thức ảnh hưởng tích cực lên thành quả công việc (H6, β = 0,5246), và có 30,3% sự biến thiên thành quả công việc được giải thích bởi chất lượng quan hệ với đồng nghiệp, sự trao quyền tâm lý và hành vi học tập không chính thức, cho thấy hành vi học tập không chính thức và các tiền tố của nó có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả làm việc của thành viên đội ảo.
Về mặt lý thuyết, bài báo này đóng góp thêm một tài liệu nghiên cứu thực nghiệm cho chủ đề học tập không chính thức trong bối cảnh làm việc hiện đại như đội ảo. Về mặt thực tiễn, các kết quả nghiên cứu nêu trên có thể giúp nhà quản lý nhận ra rằng để nâng cao kết quả làm việc của thành viên đội ảo, vẫn cần quan tâm đến các hiện tượng xã hội trong đội (như hành vi học tập không chính thức, chất lượng quan hệ với đồng nghiệp, sự trao quyền tâm lý) chứ không chỉ lệ thuộc vào việc khai thác phương tiện truyền thông điện tử.
Định hướng nghiên cứu
Thứ nhất, mô hình nghiên cứu chỉ đề cập đến 02 tiền tố của hành vi học tập không chính thức là chất lượng quan hệ với đồng nghiệp và sự trao quyền tâm lý. Có thể mở rộng cơ sở lý thuyết để xem xét các tiền tố khác của hành vi học tập không chính thức, ví dụ sự hỗ trợ của lãnh đạo, chất lượng phản hồi thông tin, tính kết nối lẫn nhau… (xem: 9, 6) nhằm nâng cao khả năng giải thích của hành vi học tập không chính thức và các tiền tố của nó cho sự biến thiên của thành quả công việc trong bối cảnh đội ảo.
Thứ hai, bài báo chỉ kiểm định mô hình trên mẫu được lấy thuận tiện từ các đội ảo nói chung, thuộc các doanh nghiệp có cơ sở tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai. Có thể gia tăng khả năng đại diện của mẫu bằng các tiêu chí phân tầng, như lấy mẫu ở các địa phương đại diện cho 03 miền Việt Nam, từ các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, hoặc từ các loại đội ảo khác nhau.
Thứ ba, dựa trên lý thuyết về hệ thống kỹ thuật xã hội74, một số tài liệu nghiên cứu (ví dụ:81, 80, 79, 78, 77, 76, 75 đã nhấn mạnh rằng cả hai khía cạnh công nghệ và xã hội đều đóng vai trò quan trọng đối với kết quả của một hệ thống kỹ thuật xã hội, và đội ảo là một hệ thống làm việc kỹ thuật xã hội điển hình. Tuy nhiên, các yếu tố kỹ thuật chưa được đề cập trong bài báo này, vì vậy cần được quan tâm khai thác trong các nghiên cứu tiếp theo.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh.
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung đột lợi ích nào trong công bố bài báo.
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Huỳnh Thị Minh Châu hình thành ý tưởng và thiết kế nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu, viết bài báo.
Nguyễn Mạnh Tuân và Trương Thị Lan Anh đóng góp hình thành ý tưởng và thiết kế nghiên cứu, đồng thời rà soát lại bài báo.