Research article Open Access Logo

The effects of the european union’s environmental regulations on the trade flows between Vietnam and the European Union

Tran Quoc Trung 1, *
Vo Thi Cam Nhung 1
  1. Foreign Trade University - Ho Chi Minh City Campus, Vietnam
Correspondence to: Tran Quoc Trung, Foreign Trade University - Ho Chi Minh City Campus, Vietnam. Email: [email protected].
Volume & Issue: Vol. 9 No. 2 (2025) | Page No.: 6113-6122 | DOI: 10.32508/stdjelm.v9i2.1544
Published: 2025-06-19

Online metrics


Statistics from the website

  • Abstract Views: 1473
  • Galley Views: 1002

Statistics from Dimensions

This article is published with open access by Viet Nam National University Ho Chi Minh City, Viet Nam. This article is distributed under the terms of the Creative Commons Attribution License (CC-BY 4.0) which permits any use, distribution, and reproduction in any medium, provided the original author(s) and the source are credited. 

Abstract

When environmental protection becomes a global trend, international trade must adapt. Developed countries tend to have stricter environmental protection regulations, which are considered as a big obstacle for goods from developing countries. This study examines the impacts of environmental regulations of the European Union countries on the trade flows between Vietnam and the European Union countries. Using a dataset of 297 observations across 27 European Uinon countries from 2013 to 2023, our regression results show that the European Uinon’s environmental regulations positively affect Vietnam's imports from the European Union. However, these environment protection regulations do not significantly impact Vietnam's exports to the European Union countries. These research findings imply that the Vietnamese government should provide Vietnamese firms with strong support in developing sustainable development strategies focusing on technological innovation and enhancement of production capability. In addition, the government should issue stricter and more enforceable regulations on environmental protection to create pressure on firms so that they have to improve their production, follow green production trends and enhance their competitive advantages in the global market. Moreover, Vietnamese firms should upgrade their production technology with green, clean, and energy-optimized solutions to ensure that their production process and products are in compliance with the European Union’s standards. Vietnamese firms may proactively expand their communications and search for financial aid from green investment funds or similar organizations supporting sustainable production to save costs on green production. Then, they should actively develop and advertise environmentally friendly products to the European Union’s consumers in order to meet the trend of sustainable consumption in this high purchasing power area.

Giới thiệu

Kể từ khi bảo vệ môi trường trở thành một phong trào toàn cầu vào những năm 1970, các chính phủ đã tích cực đề ra các quy định về môi trường 1. Vấn đề môi trường đang dần trở thành một phần quan trọng trong các quy định thương mại tại nhiều quốc gia2, 3. Vì vậy, nghiên cứu về tác động của các quy định về môi trường đến dòng chảy thương mại giữac các quốc gia là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả.

Quy định môi trường có thể ảnh hưởng tích cực đến thương mại thông qua việc khuyến khích đổi mới công nghệ4 và cũng có thể làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp5 . Một số nghiên cứu về mối liên hệ giữa quy định về môi trường và thương mại quốc tế cho thấy các quy định nghiêm ngặt có thể thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa6 hoặc không tạo ra rào cản thương mại7. Trong khi đó, các nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng các quy định này có thể ảnh hưởng không tốt đến xuất khẩu nếu không kết hợp nhuần nhuyễn với chính sách thương mại8, 9.

Liên minh châu Âu (EU) là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2023, EU là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam (sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hàn Quốc) với kim ngạch thương mại hai chiều đạt 72,3 tỷ USD. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU trong các nước Đông Nam Á và là đối tác lớn thứ 14 của EU trên toàn thế giới. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) có hiệu lực từ tháng 8/2020 không chỉ bao gồm các nội dung về tự do hóa thương mại mà còn có các nội dung ràng buộc mang tính phi thương mại để thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chủ yếu tập trung vào tác động của EVFTA đến dòng chảy thương mại giữa Việt Nam và EU nói chung10 hoặc phân tích cho từng ngành, từng nhóm cụ thể11, 12. Cho đến nay, vai trò của các quy định về bảo vệ môi trường tại EU đối với thương mại giữa Việt Nam và EU vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ dù vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đang trở thành mối quan tâm hàng đầu tại các quốc gia EU và là nội dung đặc thù của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA. Vì vậy, bài viết này nghiên cứu tác động của các quy định về môi trường đến dòng chảy thương mại giữa Việt Nam và các nước EU để giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Tổng quan tình hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Chính sách môi trường nghiêm ngặt làm tăng chi phí bảo vệ môi trường, từ đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm đi lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và vì vậy sự phát triển của hoạt động xuất khẩu13, 14. Nghiên cứu của He và Lu (2019) cho thấy quy định môi trường nghiêm ngặt hơn có thể là gánh nặng cho doanh nghiệp, hạn chế nguồn vốn đầu tư vào sản xuất và công nghệ bởi chi phí kiểm soát ô nhiễm tăng cao và gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp15. Ren và Huang (2015) cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động ngược chiều của chính sách môi trường xuất khẩu đến kim ngạch xuất khẩu từ Trung Quốc đến 37 quốc gia và vùng lãnh thổ 16. Theo Shi và Xu (2018), việc tăng cường các quy định môi trường trong các ngành công nghiệp gây ô nhiễm làm giảm hiệu suất xuất khẩu của doanh nghiệp17. Nghiên cứu của Zhang (2019) cho thấy chính sách môi trường làm doanh nghiệp suy giảm hoạt động xuất khẩu trong ngắn hạn18. Cụ thể hơn, Cherniwchan và Najjar (2022) cho thấy rằng đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các tiêu chuẩn môi trường khắt khe là các nhà sản xuất, các quy định về môi trường đã làm giảm kim ngạch xuất khẩu 32% và khả năng các nhà máy ngừng xuất khẩu tăng 5%19. Nghiên cứu của Long (2021) cũng khẳng định rằng năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào khả năng cung ứng hàng hóa mà còn phụ thuộc vào tính bền vững của hàng hóa mà một trong những tiêu chí quan trọng của tính bền vững là khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu về bảo vệ môi trường20. Kết quả nghiên cứu của Ibrahim và Ajide (2022) cũng cho thấy rằng các biện pháp thuận lợi hóa thương mại sẽ giảm đi tác dụng thúc đẩy thương mại nếu doanh nghiệp có hoạt động sản xuất không thân thiện với môi trường21. Các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của EU đối các hàng hóa xuất khẩu của vào thị trường EU thường cao hơn tiêu chuẩn hiện hành tại Việt Nam và trình độ sản xuất của các doanh nghiệp. Vì vậy, các quy định về môi trường của EU có thể là trở ngại đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

H1: Các quy định về môi trường của EU có tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam sang EU.

Theo Van Beers và Van den Bergh (1997) các quy định môi trường có tác động tiêu cực đến xuất khẩu và tích cực đối với nhập khẩu trong ngắn hạn22. Ederington và Minier (2003) nhận thấy các ngành xuất khẩu có xu hướng quản lý nghiêm ngặt và đặt ra nhiều tiêu chuẩn về môi trường hơn so với các ngành nhập khẩu [8]. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phải đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường EU, trong khi đó các sản phẩm nhập khẩu từ EU vào Việt Nam thường đã đạt tiêu chuẩn cao từ trước và dễ dàng vượt qua quy định trong nước. Hơn nữa, trong bối cảnh bảo vệ môi trường là vấn đề tất yếu của các nền kinh tế thì cả doanh nghiệp và người dân Việt Nam đều có nhu cầu cao hơn về các hàng hóa, máy móc và công nghệ thân thiện với môi trường. Brunnermeier và Cohen (2003) cũng cho thấy các quy định môi trường góp phần thúc đẩy thương mại và tạo cơ hội cho các quốc gia tiếp cận công nghệ mới và sản phẩm bền vững23 . Nghiên cứu Shang và cộng sự (2022) cũng cho thấy quy định về môi trường trước tiên đóng vai trò thúc đẩy đổi mới công nghệ xanh và thương mại nhập khẩu có thể thúc đẩy đáng kể đổi mới công nghệ xanh, dưới sự ràng buộc của các quy định về môi trường chặt chẽ hơn, thương mại nhập khẩu có tác động tích cực đáng kể đến đổi mới công nghệ xanh24. Theo Bộ Công Thương (2024), nhu cầu tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam tăng trưởng bình quân 15%/năm từ 2021 đến 2023. Cụ thể, gần 80% người tiêu dùng sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các sản phẩm thân thiện với môi trường, cho thấy nhận thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng ngày càng tăng25. Do đó, khi EU đặt ra các quy định về môi trường càng cao thì các sản phẩm đạt tiêu chuẩn từ EU càng thu hút người tiêu dùng và doanh nghiệp Việt Nam.

H2: Các quy định về môi trường của EU tác động tích cực đến nhập khẩu của Việt Nam từ EU.

Phương pháp nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu

Dòng chảy thương mại giữa hai quốc gia có nguyên nhân xuất phát từ lợi thế so sánh trong sản xuất hàng hóa. Trong thương mại quốc tế, khoảng cách giữa các quốc gia đóng vai trò quan trọng vì nó quyết định đến chi phí vận tải, các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình đàm phán và thực hiện hợp đồng, sự khác biệt về văn hóa,… Vì vậy, các học giả đã xây dựng nên mô hình trọng lực để luận giải về dòng chảy thương mại quốc tế, trong đó hai quốc gia được xem là hai “vật thể” có sự hấp dẫn do lợi thế so sánh nhưng càng gặp khó khăn khi khoảng cách hai quốc gia càng xa nhau. Mô hình trọng lực đã được sử dụng để lượng hóa các tác động của các thỏa thuận hợp tác kinh tế, liên minh tiền tệ, ngôn ngữ với dòng thương mại quốc tế song phương26. Ngoài ra, Frankel và Rose (2005) áp dụng mô hình trọng lực để đánh giá mối liên hệ thương mại và môi trường27.

Mô hình trọng lực được Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) áp dụng lần đầu tiên để phân tích dòng chảy thương mại quốc tế và được sử dụng rộng rãi để phân tích dòng chảy thương mại song phương28, 29. Mô hình trọng lực đã được sử dụng rộng rãi trong những thập kỷ gần đây do nền tảng lý thuyết chặt chẽ và tính ứng dụng trong việc dự đoán dòng chảy thương mại song phương của nhiều mặt hàng khác nhau.

Trong đó:

– A: hệ số hấp dẫn/cản trở.

– T: kim ngạch thương mại giữa hai quốc gia i và j

– Y: quy mô nền kinh tế của quốc gia i

– Y: quy mô nền kinh tế của quốc gia j

– D: khoảng cách giữa hai quốc gia i và j

Qua quá trình phát triển, D không chỉ còn được hiểu đơn thuần là khoảng cách địa lý mà còn bao gồm mọi yếu tố có thể làm khó khăn cho việc thương mại giữa các quốc gia này. Khoảng cách địa lý cũng có thể không còn xuất hiện trong mô hình trong lực nữa vì sự phát triển của vận tải quốc tế hiện đại đã làm suy giảm đáng kể trở ngại về địa lý. Mô hình trọng lực hấp dẫn có dạng tuyến tính tổng quát như sau:

T = β+ βX + βX + βX + βX +… + ɛ

Trong đó T là tổng thương mại quốc tế giữa hai quốc gia i và j vào thời gian t hoặc chỉ là kim ngạch xuất khẩu của quôc gia i sang quôc gia i hoặc kim ngạch nhập khẩu của quốc gia i từ quốc gia j. X (k=1,2,3, ...n) là biến độc lập.

Từ mô hình tổng quát trên, nghiên cứu này đề xuất mô hình hấp dẫn thương mại mở rộng để phân tích tác động của các quy định về môi trường trong Hiệp định EVFTA đến dòng chảy từ Việt Nam sang các nước EU như sau:

lnEX = β+ βlnPOP + βlnGDP + βEPS + βlnFDI + βTRADE + βCOVID + ɛ(1)

lnIM = β+ βlnPOP + βlnGDP + βEPS + βlnFDI + βTRADE + βCOVID + ɛ(2)

Trong đó, i biểu thị Việt Nam, j thay đổi từ 1 đến 27 tương ứng cho 27 quốc gia thuộc EU, t đại diện cho thời gian là năm từ năm 2013 đến năm 2023. EX là kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang EU, IM là kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ EU, EPSlà chỉ số khắt khe của quy định về môi trường (Environmental Policy Stringency Index). Tiếp thu từ nghiên cứu của Kruse và cộng sự (2022), các tác giả sử dụng chỉ số EPS do OECD phát triển từ năm 2014 để phản ánh sự nghiêm ngặt của các quy định môi trường30. EPS có 3 thành tố chính tạo thành gồm công cụ dựa trên thị trường, công cụ không dựa trên thị trường, và công cụ hỗ trợ công nghệ, mỗi nhóm chiếm trọng số 1/3. Trong mỗi nhóm, các công cụ cụ thể có trọng số riêng:

  1. Công cụ dựa trên thị trường gồm thuế và chính sách khí CO2, năng lượng tái tạo, nitơ oxit, lưu huỳnh oxit và dầu diesel, mỗi công cụ chiếm 1/6 trọng số.

  2. Công cụ không dựa trên thị trường bao gồm tiêu chuẩn và hiệu suất (giá trị giới hạn phát thải cho nitơ oxit, lưu huỳnh oxit,

  3. Công cụ hỗ trợ công nghệ được chia thành hỗ trợ ban đầu (chi phí R&D

Các công cụ được chấm điểm từ 0 – 6 dựa trên mức độ nghiêm ngặt và được tổng hợp để đảm bảo tính khách quan, phù hợp trong so sánh chính sách môi trường giữa các quốc gia và qua thời gian.

Bên cạnh đó, POPlà dân số gộp của Việt Nam quốc gia j trong năm t. Dân số của các quốc gia xuất khẩu diễn tả khả năng sản xuất và dân số của quốc gia nhập khẩu diễn tả nhu cầu hàng hóa vì vậy dân số gộp có tác động tích cực đến dòng chảy thương mại song phương 31 . GDP là tổng sản phẩm quốc nội gộp của Việt Nam và EU trong năm t. Kabir (2002), Kabir và cộng sự (2010) và Mehanna (2003) đều có quan điểm rằng sự tăng trưởng của GDP bình quân đầu người mở ra nhiều cơ hội cho hoạt động thương mại 32, 33, 34 . FDI là dòng vốn FDI ròng của Việt Nam trong năm t diễn tả khả năng sản xuất và nhu cầu hàng hóa của Việt Nam. TRADE là độ mở thương mại của các nước EU trong năm t diễn tả mức độ các nước EU buôn bán với các đối tác trong đó có Việt Nam. Nhìn chung, độ mở thương mại cao có ảnh hưởng đáng kể đến thương mại quốc tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy các quốc gia nâng cao chất lượng và năng suất để đẩy mạnh xuất khẩu và ngoại thương35 . COVID là biến giả đại diện cho tác động của dịch bệnh Covid-19 để kiểm soát tác động của đại dịch Covid-19 đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang các nước EU và nhập khẩu của Việt Nam từ các nước EU vì Covid-19 là rào cản đối với thương mại quốc tế khi gây ra giãn cách xã hội làm tiêu thụ hàng hóa suy giảm và chi phí tăng lên do đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.Table 1 trình bày các thông tin chi tiết về các biến.

Table 1

Định nghĩa biến

K‎ý hiệu

Tên biến

Định nghĩa

Dấu kỳ vọng

EX

Tổng kim ngạch xuất khẩu

Logarit tự nhiên của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU

IM

Tổng kim ngạch nhập khẩu

Logarit tự nhiên của tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ EU

POP

Quy mô dân số

Logarit tự nhiên của dân số gộp của Việt Nam và EU

+/-

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

Logarit tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội gộp của Việt Nam và EU

+

EPS

Chỉ số khắt khe của quy định môi trường

Chỉ số EPS từ OECD

+/-

FDI

Dòng vốn FDI ròng

Logarit tự nhiên của dòng vốn FDI ròng của Việt Nam từ 2013 đến 2023

+

TRADE

Độ mở thương mại

(Tổng kim ngạch nhập khẩu + Tổng kim ngạch xuất khẩu)/tổng sản phẩm quốc nội

+

COVID

Đại dịch Covid-19

1 nếu tại thời điểm đó, thế giới đang xảy ra Covid-19, có giá trị là 0 nếu ngược lại

-

Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của Việt Nam và EU được thu thập liên tục trong thời gian 11 năm theo năm từ 2013 đến 2023. Các tác giả chọn giai đoạn 2013-2023 vì đây là giai đoạn có thể thu thập được dữ liệu đầy đủ nhất cho toàn bộ 27 quốc gia EU và Việt Nam. Nguồn dữ liệu cụ thể được thể hiện tại Table 2 .

Table 2

Mô tả nguồn dữ liệu

Dữ liệu

Nguồn thu thập

Kim ngạch nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu

Ngân hàng Thế giới (World Bank):

Dân số của Việt Nam và 27 nước EU

https://data.worldbank.org

Tổng sản phẩm quốc nộicủa Việt Nam và 27 nước EU

và Trading Economics:

Dòng vốn đầu tư nước ngoài ròng của Việt Nam

https://tradingeconomics.com/vietnam/gdp

Độ mở thương mại của Việt Nam và 27 nước EU

Chỉ số khắt khe của chính sách môi trường của Việt Nam và 27 nước EU

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD):

https://www.compareyourcountry.org/environmental-policy-stringency-indicators

Thời điểm xảy ra Covid-19

Tổ chức Y tế thế giới (WHO): https://data.who.int/dashboards/covid19/cases

Kỹ thuật hồi quy

Để đánh giá tác động của các quy định về môi trường đối dòng chảy thương mại giữa Việt Nam và các nước EU, các tác giả thực hiện các bước phân tích sau:

Bước 1: Phân tích tương quan giữa hai biến. Nói cách khác, mô tả sự thay đổi của một biến bởi khi biến khác thay đổi.

Bước 2: Kiểm định Breusch - Pagan Lagrangian Multiplier được sử dụng để lựa chọn giữa POLS và REM/FEM. Nếu FEM/REM được lựa chọn, kiểm định Hausman được thực hiện và nếu p-value nhỏ hơn 5% thì FEM là mô hình phù hợp hơn, ngược lại thì mô hình REM được chọn.

Bước 3: Kiểm định Wooldridge để phát hiện tự tương quan và kiểm định Breusch – Pagan/Cook – Weisberg hoặc kiểm định Wald để kiểm tra phương sai thay đổi.

Bước 4: Sử dụng phương pháp GLS để khắc phục phương sai thay đổi.

Kết quả nghiên cứu

Thống kê mô tả

Table 3 trình bày mô tả các biến sử dụng trong mô hình. Biến lnIM có giá trị trung bình là 2,31 với giá trị nhỏ nhất là -2,09 và lớn nhất là 6,22. Biến lnEX có giá trị trung bình là 3,61, dao động từ -0,14 đến 10,04. Điều này phản ánh sự khác biệt đáng kể trong thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên EU.. Biến lnGDP (tổng sản phẩm quốc nội gộp của Việt Nam và EU) đạt trung bình 52,54, dao động từ 49,17 đến 55,91 phản ánh sự khác biệt trong quy mô kinh tế của các quốc gia. Biến TRADE có giá trị trung bình là 136,45, với biên độ dao động lớn từ 54,87 đến 394,22 cho thấy mức độ hội nhập thương mại khác nhau giữa các quốc gia. EPS đạt trung bình 2,91, dao động từ 2 đến 4,89 phản ánh mức độ nghiêm ngặt khác nhau trong yêu cầu về bảo vệ môi trường giữa các quốc gia EU. Biến lnFDI có giá trị trung bình là 23,35, dao động từ 22,91 đến 23,64 cho thấy vốn FDI có sự thay đổi nhẹ.

Table 3

Mô tả các biến

Tên biến

Số quan sát

Trung bình

Độ lệch chuẩn

hỏ nhất

Lớn nhất

lnIMijt

297

2,31

1,74

-2,09

6,22

lnEXijt

297

3,61

1,76

-0,14

10,04

lnGDPijt

297

52,54

1,50

49,17

55,91

lnPOPijt

297

34,18

1,34

31,28

36,66

TRADEjt

297

136,45

70,73

54,87

394,22

EPSjt

297

2,91

0,59

2

4,89

lnFDIit

297

23,35

0,24

22,91

23,64

COVIDt

297

0,36

0,48

0

1

Kết quả kiểm định và ước lượng mô hình

Kết quả kiểm định tự tương quan

Kết quả từ Table 4 cho thấy tương quan giữa lnGDP và lnPOP, là mạnh nhất với hệ số tương quan 0,89. Nghĩa là, có thể xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến xuất hiện trong mô hình, dẫn đến sự không chính xác khi các biến độc lập không giải thích cho biến phụ thuộc36, 37, 38 . Tiếp theo, các tác gỉa kiểm tra đa cộng tuyến của mô hình bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF) như Table 5 , hệ số VIF trung bình là 4,51, thấp hơn 539 . Từ đó, có thể kết luận rằng mô hình không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình.

Table 4

Ma trận hệ số tương quan

lnIMijt

lnEXijt

lnPOPijt

lnGDPijt

TRADEjt

EPSjt

lnFDIit

COVIDt

lnIMijt

1,00

lnEXijt

0,83

1,00

lnPOPijt

0,84

0,76

1,00

lnGDPijt

0,93

0,86

0,89

1,00

TRADEjt

-0,46

-0,41

-0,71

-0,49

1,00

EPSjt

0,60

0,51

0,47

0,58

-0,33

1,00

lnFDIit

0,12

0,20

0,03

0,20

0,08

0,09

1,00

COVIDt

0,07

0,15

0,02

0,13

0,05

0,04

0,54

1,00

Table 5

Kết quả kiểm định hệ số phóng đại phương sai VIF

Tên biến

VIF

1/VIF

lnPOPijt

10,86

0,09

lnGDPijt

8,97

0,11

TRADEjt

2,61

0,38

EPSjt

1,63

0,62

lnFDIit

1,57

0,84

COVIDt

1,41

0,70

VIF trung bình

4,51

Kết quả kiểm định

Table 6 thể hiện kết quả kiểm định mô hình (1) - Biến phụ thuộc là lnEX như sau: Thứ nhất, kiểm định Breusch–Pagan Lagrangian cho thấy Prob > chi2 = 0,0000 (< 5%), bác bỏ giả thuyết H0, khẳng định mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled Ordinary Least Squared - POLS) không phù hợp và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM) hoặc mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effecs Model – FEM) sẽ phù hợp hơn. Thứ hai, kiểm định Hausman cho Prob > chi2 = 0,7088 (> 5%) cho thấy mô hình REM phù hợp hơn FEM ở mức ý nghĩa 5%. Thứ ba, kiểm định Wooldridge cho Prob > F = 0,5533 (> 5%) nghĩa là mô hình không có hiện tượng tự tương quan. Cuối cùng, kiểm định Breusch–Pagan/Cook–Weisberg cho Prob > chi2 = 0,4036 (> 5%) khẳng định phương sai sai số không đổi.

Như vậy, mô hình (1) không mắc các khuyết tật về tự tương quan hay phương sai sai số thay đổi, và việc sử dụng mô hình REM là phù hợp ở mức ý nghĩa 5%. Kết quả hồi quy REM cho mô hình (1) - Biến phụ thuộc là lnEX cho thấy chỉ số EPS có hệ số β = -0,118 tuy nhiên biến EPS không có ý nghĩa thống kê trong mô hình. Tức là trong giai đoạn 2013-2023, các quy định của EU về môi trường tác động không đáng kể đến xuất khẩu của Việt Nam. Kết quả này trái ngược với Dean (2002), Mulatu & cộng sự (2004), He & Lu (2019) nhưng có thể được giải thích bởi thực tiễn rằng hàng hóa của Việt Nam chưa thể đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường khắt khe của EU nên việc thay đổi mức độ khắt khe trong quy định cũng không giúp cho doanh nghiệp Việt Nam gia tăng hay giảm đi kim ngạch xuất khẩu13, 14, 15 .

Kết quả kiểm định mô hình (2) - Biến phụ thuộc là lnIM cho thấy kiểm định Breusch-Pagan xác nhận mô hình POLS không phù hợp và mô hình REM/FEM phù hợp hơn. Kiểm định Hausman khẳng định mô hình FEM phù hợp hơn REM. Kiểm định Wooldridge và Wald cho thấy có hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi. Do đó, mô hình được khắc phục bằng phương pháp GLS. Kết quả hồi quy POLS và GLS cho mô hình (2) - Biến phụ thuộc là lnIM cho thấy chỉ số EPS có hệ số là 0,332 và 0, 206 và có ‎ý nghĩa thống kê tại mức‎ ý nghĩa 1%. Tức là, các quy định môi trường làm gia tăng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Điều này được giải thích rằng các khi các nước EU càng quy định nghiêm ngặt về môi trường thì hàng hóa của họ càng có sức cạnh tranh tốt và thu hút được nhiều khách hàng từ Việt Nam. Trong bối cảnh người dân và doanh nghiệp Việt Nam nhận thức tốt hơn về bảo vệ môi trường thì kết quả này là phù hợp với thực tiễn.

Table 6

Kết quả hồi quy và kiểm định các mô hình

Biến số

Mô hình (1)

Biến phụ thuộc là lnEX

Mô hình (2)

Biến phụ thuộc là lnIM

POLS

FEM

REM

POLS

FEM

REM

GLS

lnPOP

0,0581

(0,45)

-0,956

(-0,79)

0,264

(1,12)

0,118

(1,33)

-1,546*

(-1,76)

0,726***

(4,38)

0,779***

(17,21)

lnGDP

0,956***

(9,07)

0,649***

(3,31)

0,767***

(4,65)

0,950***

(13,19)

0,102

(0,71)

0,459***

(3,82)

0,242***

(4,76)

TRADE

0,001

(0,60)

0,002

(0,45)

0,001

(0,24)

0,001

(1,55)

0,010***

(3,54)

0,004**

(2,39)

0,000

(0,05)

EPS

0,0746

(0,66)

-0,143

(-1,03)

-0,118

(-0,92)

0,332***

(4,31)

0,0950

(0,94)

0,148

(1,53)

0,206***

(4,18)

lnFDI

0,109

(0,39)

0,639***

(2,31)

0,349

(1,57)

-0,373*

(-1,96)

0,728***

(3,60)

0,0988

(0,60)

0,0481

(0,48)

COVID

0,117

(0,90)

0,151*

(1,92)

0,131*

(1,68)

-0,048

(-0,54)

0,027

(0,47)

-0,016

(-0,27)

-0,003

(-0,08)

Số quan sát

297

297

297

297

297

297

297

R-square

0,740

0,360

0,875

0,282

Prob > chi2

0,000

Kiểm định Breusch - Pagan Lagrangian

0,000

0,000

Kiểm định Hausman

0,709

0,000

Kiểm định Wooldridge

0,553

0,001

Kiểm định Breusch - Pagan /Cook - Weisberg

0,404

Kiểm định Wald

0,000

Kết luận và hàm chính sách

Từ năm 2013 đến năm 2023, các quy định môi trường tại EU không có ảnh hưởng đáng kể đến xuất khẩu của Việt Nam đến EU nhưng lại làm gia tăng nhập khẩu của của Việt Nam từ EU. Khi tiêu chuẩn về môi trường của EU càng khắt khe thì hàng hóa EU càng trở nên hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng và doanh nghiệp Việt Nam. Như vậy, chưa có bằng chứng thống kê để khẳng định giả thuyết H1 nhưng có bằng chứng thống kê rõ ràng cho giả thuyết H2. Nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định sự hữu dụng của mô hình trọng lực trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng thể hiện sự nhất quán đối với các nghiên cứu trước đây của Cherniwchan và Najjar (2022) Ibrahim và Ajide (2022) và Long (2021) rằng các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi đối diện với các tiêu chuẩn về môi trường trong thương mại quốc tế 19, 20, 21. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu mang đến các hàm ý chính sách như sau:

Thứ nhất, về mặt chính sách, chính phủ cần hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất. Đầu tư vào công nghệ sản xuất xanh không chỉ giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh tốt với hàng hóa từ các nước phát triển như EU trên thị trường nội địa mà còn chuẩn bị cho xuất khẩu sang các thị trường này. Chính phủ cũng cần có các quy định môi trường khắt khe hơn đồng thời có chính sách hỗ trợ đào tạo và tuyên truyền về tiêu chuẩn môi trường để doanh nghiệp phải cải thiện sản xuất, hướng đến sản xuất xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng mà chỉ nhập khẩu máy móc để sản xuất sản phẩm xanh; phổ biến và hướng dẫn cho cộng đồng đồng doanh nghiệp các cơ hội từ việc tận dụng các ưu đãi về thuế quan trong Hiệp định EVFTA để nhập khẩu các máy móc, công nghệ cao từ EU để hạn chế ô nhiễm môi trường.

Thứ hai, đối với các doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu phản ánh rằng quy định môi trường của các nước EU không tác động đáng kể đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, điều này thể hiện các doanh nghiệp Việt Nam đang thích nghi tốt với các tiêu chuẩn này. Để phát huy tốt hơn nữa, doanh nghiệp Việt Nam cần hướng tới sản xuất và phát triển bền vững để đáp ứng các yêu cầu của EU, qua đó tạo ra lợi thế khi cạnh tranh với các sản phẩm khác tại thị trường này. Cụ thể, doanh nghiệp nên chuyển đổi công nghệ sản xuất theo hướng xanh, sạch và tối ưu năng lượng để giảm thiểu chi phí về dài hạn, đồng thời đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn của EU; áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn để tái sử dụng các nguồn lực hiệu quả và giảm chất thải, giúp doanh nghiệp tiết kiệm tài nguyên và đạt các chứng nhận bền vững, qua đó tạo sự uy tín đối với người tiêu dùng EU. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần tích cực đẩy mạnh phát triển và quảng bá các sản phẩm thân thiện với môi trường đến người tiêu dùng, đáp ứng xu hướng tiêu dùng bền vững ngày càng tăng tại EU như sản phẩm tái chế, có chứng nhận bền vững hoặc không gây hại cho môi trường. Hơn nữa, doanh nghiệp nên kết nối với các hiệp hội trong ngành để trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm nguồn hỗ trợ tài chính từ các quỹ đầu tư xanh hoặc các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp bền vững thông qua các hội chợ thương mại quốc tế với đối tác EU do các hiệp hội tổ chức.

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

EU: Liên minh Châu Âu (Europeand Union)

Xung đột lợi ích

Nhóm tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung đột lợi ích nào trong công bố bài báo.

Đóng góp của các tác giả

- Võ Thị Cẩm Nhung chịu trách nhiệm nội dung: Thu thập và xử lý dữ liệu; viết bản thảo của bài báo.

- Trần Quốc Trung chịu trách nhiệm nội dung: Hướng dẫn thực nghiên nghiên cứu; viết bản thảo của bài báo; chỉnh sửa bản thảo theo yêu cầu của phản biện và Tạp chí.

References

  1. K. Khalid, M. Usman, M.A. Mehdi. The determinants of environmental quality in the SAARC region: a spatial heterogeneous panel data approach. Environmental Science and Pollution Research 2021 ; 28: 6422-36.
  2. L. Baghdadi, I. Martinez-Zarzoso, H. Zitouna. Are RTA agreements with environmental provisions reducing emissions?. Journal of International Economics 2013 ; :
  3. M. Usman, D. Balsalobre-Lorente. Environmental concern in the era of industrialization: can financial development, renewable energy and natural resources alleviate some load?. Energy Policy 2022 ; 162(C): 112780.
  4. M. Sato, A. Dechezleprêtre. Asymmetric industrial energy prices and international trade. Energy Economics 2015 ; 52: S130-41.
  5. J. Huang, Z. Wu. Impact of environmental regulations on export trade - empirical analysis based on Zhejiang Province. International Journal of Environmental Research and Public Health 2022 ; 19(19): 12569.
  6. J. Sauvage. The stringency of environmental regulations and trade in environmental goods. :
  7. X. Xu. International trade and environmental regulation: time series evidence and cross section test. Environmental and Resource Economics 2000 ; 17: 233-57.
  8. J. Ederington, J. Minier. Is environmental policy a secondary trade barrier? An empirical analysis. Canadian Journal of Economics/Revue canadienne d'économique 2003 ; 36(1): 137-54.
  9. J. Jug, D. Mirza. Environmental regulations in gravity equations: evidence from Europe. World Economy 2005 ; 28(11): 1591-615.
  10. V.S. Hà. Tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU đến xuất khẩu Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển 2024; 323: 12-22.
  11. T.H.N. Đỗ, T.O. Nguyễn, H.T. Ngô. Phân tích tình hình xuất khẩu các nhóm hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU. TNU Journal of Science and Technology 2019; 196(3): 63-70.
  12. T.H. Vũ, T.M. Nguyễn. Đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-EU: Sử dụng các chỉ số thương mại. VNU Journal of Economics and Business 2016 ; 32(3):
  13. J.M. Dean. Does trade liberalization harm the environment? A new test. Canadian Journal of Economics/Revue canadienne d'économique 2016 ; 35(4): 819-42.
  14. A. Mulatu, R.J. Florax, C.A. Withagen. Environmental Regulation and International Trade: Empirical Results for the Manufacturing Industry in Germany, the Netherlands and the US. The B.E. Journal of Economic Analysis & Policy 2003; 3(2): 1-30.
  15. Y. He, W.X. Lu. How does environmental regulation affects Chinese firms’ export behavior? Empirical study based on the perspective of financing heterogeneity. Finance and Trade Research 2019; 30(12): 30-47.
  16. L. Ren, C.J. Huang. The Impact of Environmental Regulations at Home and Abroad on China’s Export Trade. J. World Econ 2015; 5: 59-80.
  17. X. Shi, Z. Xu. Environmental regulation and firm exports: Evidence from the eleventh Five-Year Plan in China. Journal of Environmental Economics and Management 2018 ; 89: 187-200.
  18. C.Y. Zhang. Science and Technology Standard Regulation and Export Dynamics of Enterprises—A Natural Experiment Based on Cleaner Production Standards. J. Int. Trade 2019; 12: 32-45.
  19. J. Cherniwchan, N. Najjar. Do environmental regulations affect the decision to export?. American Economic Journal: Economic Policy 2022; 14(2): 125-60.
  20. Y. Long. Export competitiveness of agricultural products and agricultural sustainability in China. Regional Sustainability 2021 ; 2(3): 203-10.
  21. R.L. Ibrahim, K.B. Ajide. Trade facilitation and environmental quality: empirical evidence from some selected African countries. Environment, Development and Sustainability 2022 ; 24(1): 1282-312.
  22. Beers C, Den Bergh JC. An empirical multi-country analysis of the impact of environmental regulations on foreign trade flows. Kyklos 1997; 50(1): 29-46.
  23. S.B. Brunnermeier, M.A. Cohen. Determinants of environmental innovation in US manufacturing industries. Journal of environmental economics and management 2003; 45(2): 278-93.
  24. L. Shang, D. Tan. Environmental regulation, import trade, and green technology innovation. Environmental Science and Pollution Research 2022 ; 29(9): 12864-74.
  25. Bộ Công Thương. Hướng tới sản xuất và tiêu dùng bền vững. :
  26. J.H. Bergstrand, P. Egger, M. Larch. Gravity Redux: Estimation of gravity-equation coefficients, elasticities of substitution, and general equilibrium comparative statics under asymmetric bilateral trade costs. Journal of International Economics 2013 ; 89(1): 110-21.
  27. J.A. Frankel, A.K. Rose. Is trade good or bad for the environment? Sorting out the causality. Review of economics and statistics 2005 ; 87(1): 85-91.
  28. J. Tinbergen. Shaping the world economy; suggestions for an international economic policy. 1962; :
  29. P. Pöyhönen. A tentative model for the volume of trade between countries. Weltwirtschaftliches Archiv 1963 ; 90: 93-100.
  30. T. Kruse, A. Dechezleprêtre, R. Saffar, L. Robert. Measuring environmental policy stringency in OECD countries: An update of the OECD composite EPS indicator. OECD Economic Department Working Papers 2022; (4):
  31. E. Nuroglu. The impact of population on bilateral trade flows in the case of OIC. In Conference: 2nd International Conference on Islamic Economic Integration 2010 2010; :
  32. K. Hassan. An empirical investigation of economic cooperation among the OIC member countries. 2022; :
  33. M.K. Hassan, B.A. Sanchez, M.E. Hussain. Economic performance of the OIC countries and the prospect of an Islamic common market. Journal of Economic Cooperation and Development 2010; 31(2): 65-121.
  34. D.R. Mehanna. Do politics and culture affect Middle East trade? Evidence from the gravity model. Review of Middle East Economics and Finance 2003; 1(2): 57-72.
  35. M. Ravallion. Pro-Poor Growth: A Primer.. World Bank Policy Research Working Paper 3242 :
  36. S.S. Kumari. Multicollinearity: Estimation and elimination. Journal of Contemporary Research in Management (JCRM) 2008; 3(1):
  37. N. Shrestha. Detecting multicollinearity in regression analysis. American journal of applied mathematics and statistics 2020 ; 8: 39-42.
  38. H. Yu, S. Jiang, K.C. Land. Multicollinearity in hierarchical linear models. Social science research 2015 ; 53: 118-36.
  39. J.M. Wooldridge. Econometric analysis of cross section and panel data. 2010 ; :

Comments