Determinants influencing young people's intention to use e-wallets in Vietnam
- Faculty of Business Administration, National Economics University, Hanoi, Vietnam
Abstract
Payment by e-wallet is an inevitable trend and a driving force in the economic development of the entire country. An e-wallet securely stores users' payment information in a compact form. Thus, it dramatically reduces the need to carry physical wallets. Companies that need to collect consumer data for their marketing needs can benefit greatly from e-wallets. This study identifies and ranks factors influencing young people's intention to use e-wallets in Vietnam. This study is structured as follows: Part 1 is a general introduction; Part 2 summarizes the studies related to the research topic; Part 3 is the proposed model and hypotheses; Part 4 presents the research methodology; Part 5 presents the research results and part 6 discusses the research results and gives some recommendations. Through a literature review of related research, the authors proposed a model with 4 independent variables affecting the dependent variable, which is the intention to use e-wallets for young people. In addition, four hypotheses were also formed through the research overview. This study was investigated through a questionnaire, which randomly selected a sample of 316 young people with Vietnamese nationality. Cronbach's Alpha, EFA, and regression models were used to explore the impact of each independent variable. Research results show that the three factors Perceived Usefulness (HI), Perceived Risk and Security (RR), and Social Influence (XH) have a significant influence on intention to use. e-wallets among young people, meanwhile: Perceived ease of use (DSD) is not, which differs from most previous studies. Based on the findings, the authors have proposed 3 recommendations for businesses to develop e-wallet services to increase young people's intention to use this product.
Giới thiệu
Trong thời đại công nghiệp 4.0, xu hướng chuyển đổi số hóa dường như xuất hiện ở rất nhiều khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta. Điều này có thể được nhận thấy qua số lượng giao dịch trực tuyến tăng trưởng, điều này cũng thúc đẩy quá trình số hóa hệ thống thanh toán1. Thói quen tiêu dùng tài chính đã thay đổi hoàn toàn, ngày càng có nhiều người chuyển sang sử dụng ví điện tử, đặc biệt là khu vực thành thị. Người tiêu dùng có thể sử dụng điện thoại di động để thanh toán cho nhiều loại dịch vụ, hàng hóa kỹ thuật số hoặc hàng hóa hữu hình thay vì dùng tiền mặt hay thẻ tín dụng 2. Hành vi mua sắm trực tuyến đã phát triển mạnh mẽ và điện thoại di động trở thành phương thức thanh toán được ưa chuộng. Hơn nữa, nhờ những thay đổi nhanh chóng trong nền kinh tế, điều kiện xã hội, bối cảnh pháp lý và công nghệ, hệ sinh thái thanh toán qua di động tiếp tục trải qua một cuộc cách mạng. Ví điện tử đóng vai trò thay thế cho ví vật lý ở định dạng kỹ thuật số, và lưu trữ chi tiết phương thức thanh toán cá nhân để thuận tiện cho giao dịch thông qua việc sử dụng mật khẩu, mã QR hoặc hình ảnh khuôn mặt. Ví điện tử là một dịch vụ kỹ thuật số cho phép người dùng lưu trữ và quản lý thông tin mua sắm trực tuyến của họ, bao gồm thông tin đăng nhập, mật khẩu và địa chỉ giao hàng3. Nó cũng mang đến cho người tiêu dùng một phương thức mua sắm tiện lợi và nhanh chóng hơn, cho phép họ mua sản phẩm từ bất kỳ cá nhân hoặc cửa hàng nào trên toàn cầu.
Sự xuất hiện của thương mại điện tử và ví điện tử là một hiện tượng toàn cầu ở các nước đang phát triển. Rõ ràng rằng, không dùng tiền mặt làm giảm chi phí kinh doanh và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế thị trường4. Tuy nhiên, những kỳ vọng về sự phát triển của nó vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ vì vẫn tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa mua hàng trực tuyến và mua hàng trực tiếp 5. Hành vi tiêu dùng tiền mặt vẫn còn là thói quen phổ biến với đa số người Việt Nam. Họ nhận thấy ví điện tử còn mới mẻ và còn nhiều băn khoăn với các công cụ thanh toán trực tuyến này, dù cho tỷ lệ sử dụng điện thoại di động của Việt Nam là khá cao6. Việt Nam đang là một trong những quốc gia trên thế giới có số lượng người dùng điện thoại thông minh lớn so với tổng dân số cả nước 7. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ Việt Nam hiện đang hướng tới nâng cao tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt hướng tới nền kinh tế số. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản mà các nhà cung cấp công cụ thanh toán qua ví điện tử cần phải quản lý. Có rất nhiều vấn đề khiến cho xu hướng sử dụng ví điện tử tại Việt Nam chưa thực sự bùng nổ như kỳ vọng.
Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định những nhân tố tác động tới ý định sử dụng ví điện tử của những người trẻ ở thị trường Việt Nam. Với nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu có thể có góc nhìn chính xác hơn về các yếu tố đang ảnh hưởng đến việc sử dụng ví điện tử và có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng công nghệ này, từ đó nâng cao hiệu quả nền kinh tế.
Nghiên cứu này được cấu trúc như sau: phần 1 là giới thiệu chung; phần 2 tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu; phần 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu; phần 4 trình bày kết quả nghiên cứu và phần 5 là thảo luận các kết quả nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị.
Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu về xu hướng sử dụng ví điện tử hiện nay chủ yếu hướng đến các nước đang phát triển vì các nước này đang ở giai đoạn đầu áp dụng và mặt khác có tỷ lệ sử dụng thấp. Hơn nữa, các nước đang phát triển thể hiện nhu cầu cao về chủ nghĩa tiêu dùng do sự phát triển đang diễn ra nhanh chóng4. Trong các nghiên cứu về ý định sử dụng và áp dụng ví điện tử, hầu hết áp dụng các mô hình như TAM8, UTAUT 9 và UTAUT210 về việc chấp nhận và sử dụng công nghệ. Các nghiên cứu gần đây cho thấy hành vi của người tiêu dùng cũng đang dần thay đổi khi công nghệ thanh toán ngày càng phát triển; người tiêu dùng có xu hướng sử dụng dịch vụ thanh toán trên nền tảng ứng dụng. Công nghệ ngày càng được sử dụng và đa dạng hóa trong các giao dịch thanh toán, từ thẻ thanh toán thông minh đến ví điện tử 7.
Nghiên cứu này cũng thông qua việc kế thừa các lý thuyết nền tảng trên và các nghiên cứu tương tự của các tác giả trên thế giới và Việt Nam để đánh giá thái độ của giới trẻ đối với việc sử dụng ví điện tử.
Nhận thức về tính hữu ích
Tính hữu ích là một trong những thành phần quan trọng của Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM). Tính hữu ích ở đây đề cập đến mức độ mà khách hàng cảm nhận rằng họ sẽ nhận được các lợi ích khác nhau khi sử dụng các dịch vụ điện tử11. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận thức về tính hữu ích ảnh hưởng rất đáng kể đến ý định của người tiêu dùng khi sử dụng các phương thức thanh toán qua internet như thanh toán điện tử, ngân hàng điện tử cũng như ví điện tử 12. Nhận thức về tính hữu ích đã cho thấy mối quan hệ rất lớn tới ý định sử dụng ví điện tử trong nghiên cứu của Thaker & cộng sự4, Trivedi 13, Teo & cộng sự12… Hơn nữa, tính hữu ích đã được chứng minh là có tác động tích cực đến ý định sử dụng ví điện tử trong điều kiện không chắc chắn 14. Một số tác giả thì chứng minh rằng, tính hữu ích có tác động thuận chiều đến thái độ sử dụng ví điện tử, từ đó mới dẫn tới ý định sử dụng chúng15, 16.
Nhận thức về tính dễ sử dụng
Tính dễ sử dụng là việc người dùng tương tác với hệ thống một cách rõ ràng, dễ hiểu và dễ dàng thực hiện 9. Junadi 17 sử dụng yếu tố này bao gồm những thang đo như: Hệ thống thanh toán dễ sử dụng, giao dịch linh hoạt và dễ học. Nhóm tác giả đã chứng minh rằng những thang đo này là phù hợp cho nghiên cứu. Nghiên cứu của Teo & cộng sự 12 cũng chỉ ra điều tương tự, khi yếu tố dễ sử dụng có số điểm trung bình là cao nhất so với các nhân tố khác trong nghiên cứu của nhóm tác giả. Tuy nhiên, theo6, những người trẻ không quan tâm đến việc hệ thống có dễ sử dụng hay không. Theo nhóm tác giả thì lý do là vì giới trẻ được biết đến là khách hàng thích ứng tốt với công nghệ và có khả năng học hỏi nhanh.
Nhận thức về rủi ro và tính bảo mật
Nhận thức về rủi ro đề cập đến nhận thức của người dùng về những tác động bất lợi khi sử dụng 1 dịch vụ cụ thể18. Một số nghiên cứu trước đây cũng đã thử nghiệm các khía cạnh khác nhau của bảo mật đối với sản phẩm công nghệ. Ví dụ, Kim & cộng sự 19 tiết lộ rằng nhận thức về rủi ro có tác động lớn đến quyết định của người dùng trong mua sắm trực tuyến. Featherman & Pavlou [18] khẳng định rằng các khía cạnh rủi ro (rủi ro về thời gian, rủi ro về quyền riêng tư, rủi ro về tài chính) là mối quan tâm nổi bật nhất đối với việc sử dụng một dịch vụ điện tử.
Kolsaker & Payne20 tuyên bố rằng tính bảo mật phản ánh nhận thức về độ tin cậy của hệ thống thanh toán. Yếu tố này đã được chứng minh là có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định sử dụng công nghệ6 và đây là chỉ số chính dẫn đến việc áp dụng các phương thức thanh toán ví di động. Bảo mật là mức độ tin tưởng của khách hàng đối với các bên có trách nhiệm rằng thông tin cá nhân của họ sẽ không bị các bên xem, lưu trữ và khai thác một cách trái phép trong quá trình sử dụng công nghệ 21. Yếu tố này cũng được đưa vào mô hình như là 1 thang đo cho nhận thức rủi ro trong nghiên cứu của Chen22; Yang & cộng sự5; Angelina & Rahadi1. Các tác giả này cũng đã khẳng định nhận thức về tính rủi ro và bảo mật của hệ thống ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng ví điện tử.
Ảnh hưởng xã hội
Lý thuyết ảnh hưởng xã hội là một lý thuyết có cơ sở vững chắc giải thích hành vi xã hội của các cá nhân với danh tính của họ23, 24. Lý thuyết này minh họa các quá trình cam kết khác nhau làm thay đổi thái độ của một người đối với một hành vi cụ thể như thế nào25. Ảnh hưởng xã hội được định nghĩa là mức độ mà người dùng bị tác động khi những người có mối quan hệ chặt chẽ với họ đưa ra lời khuyên nên sử dụng một công nghệ mới9. Đối với các nghiên cứu chấp nhận công nghệ, ảnh hưởng xã hội đã được áp dụng thường xuyên và phần lớn đều mang lại tác động tích cực đến ý định hành vi 4, 26. Trong nghiên cứu của Phan & cộng sự6, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra rằng, ảnh hưởng xã hội là yếu tố mạnh mẽ nhất ảnh hưởng đến ý định hành vi. Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất rằng các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến nên hợp tác với những người nổi tiếng trong khi thực hiện các chiến dịch quảng cáo ví điện tử, nhằm gia tăng nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm.
Mô hình đề xuất và các giả thuyết
Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, nhóm tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử E-wallet của giới trẻ Việt Nam như Figure 1.

Mô hình nghiên cứu đề xuất. Nguồn: Nghiên cứu của nhóm tác giả
Mô hình được đề xuất để kiểm định các giả thuyết sau:
Giả thuyết H1: Nhận thức về tính hữu ích có ảnh hưởng tích cực tới ý định sử dụng vi điện tử.
Giả thuyết H2: Nhận thức về tính dễ sử dụng có ảnh hưởng tích cực tới ý định sử dụng ví điện tử.
Giả thuyết H3: Nhận thức về rủi ro và bảo mật có hảnh hưởng tích cực tới ý định sử dụng ví điện tử.
Giả thuyết H4: Ảnh hưởng xã hội có ảnh hưởng tích cực tới ý định sử dụng ví điện tử.
Từ mô hình nghiên cứu đề xuất, nhóm nghiên cứu tổng hợp và hình thành thang đo cho các biến trong mô hình (Table 14).
Phương pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu bao gồm năm thành phần bao gồm một biến phụ thuộc là ý định sử dụng ví điện tử, cùng với đó là 4 biến độc lập lần lượt là: nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng, nhận thức về rủi ro và bảo mật, và ảnh hưởng xã hội. Quá trình nghiên cứu được thực hiện như sau:
Bước 1: Xác định rõ chủ đề nghiên cứu.
Bước 2: Tổng quan các công trình nghiên cứu đã được thực hiện, đề xuất mô hình nghiên cứu với các thang đo dự kiến và các giả thuyết nghiên cứu.
Bước 3: Thu thập dữ liệu. Dữ liệu được nhóm tác giả xác thu thập đảm bảo độ tin cậy
Bước 4: Phân tích dữ liệu. Dữ liệu được thu thập sẽ được làm sạch bằng các phương pháp thống kê thích hợp thông qua phần mềm SPSS: kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đa biến và phân tích sự khác biệt của các nhóm đối tượng qua kiểm định ANOVA.
Bước 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất kiến nghị với các doanh nghiệp, tổ chức phát hành ví điện tử
Trong nghiên cứu này, Google Forms được sử dụng để xây dựng bảng câu hỏi. Theo đó, một thử nghiệm đã được thực hiện trên 20 người trả lời, những người đã có ý định sử dụng ví điện tử. Bài kiểm tra dùng để xem xét lại thiết kế của bảng câu hỏi, cỡ mẫu, tính hiệu quả của câu hỏi và tính khả thi chung của nghiên cứu. Nhóm tác giả sử dụng khảo sát dựa trên bảng câu hỏi để thu thập những thông tin cần thiết nhằm kiểm định các mục tiêu của nghiên cứu này. Bảng câu hỏi tuân theo kiểu thang đo Likert năm điểm để đo lường ý định của người dùng xếp hạng từ 1 (rất không đồng ý), 2 (không đồng ý), 3 (trung lập), 4 (đồng ý) và 5 (rất đồng ý). Với cách tiếp cận theo thang đo Likert, người trả lời sẽ chọn một lựa chọn tốt nhất để xác định quan điểm của họ đối với câu hỏi được hỏi trong bảng hỏi (xem Phụ lục 1).
Đối tượng điều tra: Những người trẻ tuổi đang sinh sống tại Việt Nam có ý định sử dụng ví điện tử bao gồm cả những người đã và đang sử dụng ví điện tử. Về quy mô mẫu điều tra, theo Hair & cộng sự 27, quy mô mẫu điều tra tối thiểu là 5 lần tổng số thang đo của mô hình nghiên cứu. Theo mô hình nghiên cứu đề xuất, tổng số thang đo là 22. Như vậy, quy mô mẫu điều tra tối thiểu là 110 người phản hổi. Tuy nhiên, để có kết quả có độ tin cậy cao nhất có thể, nhóm nghiên cứu đã gửi phiếu điều tra đến càng nhiều người càng tốt. Kết quả nhóm đã nhận được 367 phiếu trả lời. Số phiếu hợp lệ là 316.
Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Nhóm nghiên cứu đã tập hợp danh sách 675 người dân trong độ tuổi từ 12 trở lên đến 30 trên tất cả các tỉnh thành của Việt Nam để gửi phiếu điều tra.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thống kê mô tả
Thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu được thể hiện trong Table 1.
Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
|
Số lượng |
Tỷ lệ | ||
|
Nghề nghiệp |
Doanh nghiệp Nhà nước |
81 |
25,6 |
|
Doanh nghiệp tư nhân |
76 |
24,1 | |
|
Làm tự do |
80 |
25,3 | |
|
Khác |
79 |
25,0 | |
|
Tổng |
316 |
100,0 | |
|
Giới tính |
Nam |
160 |
50,6 |
|
Nữ |
156 |
49,4 | |
|
Tổng |
316 |
100,0 | |
|
Tuổi |
12-18 |
111 |
35,1 |
|
19-22 |
103 |
32,6 | |
|
23-30 |
102 |
32,3 | |
|
Tổng |
316 |
100,0 | |
Qua bảng trên, ta có thể thấy được, tổng số phản hồi hợp lệ mà nhóm tác giả thu thập được là 316 phản hồi. Trong đó, tỉ lệ được phân chia khá cân bằng giữa các nhóm phân biệt. Về nghề nghiệp, đối tượng làm doanh nghiệp nhà nước chiếm 25,6%; đối tượng doanh nghiệp tư nhân, làm tự do hoặc làm công việc khác lần lượt chiếm 24%, 25% và 25%. Về giới tính, tỷ lệ nam giới là 50,6%; còn nữ giới chiếm 49,4%. Về độ tuổi, độ tuổi từ 12-18 là 35,1%; độ tuổi từ 19-22 và 23-30 chiếm lần lượt là 32,6% và 32,3%. Theo nghiên cứu của VTV 28, gần 70% Gen Z - những người trong độ tuổi từ 12 đến 30 tuổi luôn chọn thương mại điện tử là điểm khởi đầu cho hành trình mua sắm của mình. Trong đó 84% lựa chọn các kênh mua sắm online có kèm giải trí. Vì vậy nhóm tác giả muốn thực hiện nghiên cứu này đối với nhóm đối tượng từ 12-30 tuổi.
Kết quả ước lượng
Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha
Các biến nghiên cứu chính thức được đánh giá bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha. Hệ số này được sử dụng để loại bỏ các biến không phù hợp. Theo Hair và cộng sự27, những thang đo có tổng hệ số tương quan nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại bỏ, các biến sẽ được chọn nếu hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên. Thông qua Table 2 và Table 3 dưới đây, ta thấy hệ số Cronbach’s Alpha của 4 biến trong mô hình nghiên cứu có giá trị từ 0,815 đến 0,925. Tất cả các hệ số Cronbach’s Alpha của HI, DSD, RR, XH đều lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng của tất cả các thang đo đều lớn hơn 0,3. Vì vậy, tất cả các biến quan sát đều được đảm bảo cho phân tích nhân tố khám phá (EFA) ở bước tiếp theo.
Độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các biến độc lập
|
Cronbach's Alpha |
N of Items | |
|
HI |
,925 |
5 |
|
DSD |
,922 |
4 |
|
RR |
,920 |
6 |
|
XH |
,815 |
4 |
Độ tin cậy Cronbach’s Alpha của từng thang đo
|
Corrected Item-Total Correlation |
Cronbach's Alpha if Item Deleted | ||
|
HI |
HI1 |
,809 |
,907 |
|
HI2 |
,819 |
,905 | |
|
HI3 |
,841 |
,900 | |
|
HI4 |
,820 |
,905 | |
|
HI5 |
,736 |
,921 | |
|
DSD |
DSD1 |
,792 |
,908 |
|
DSD2 |
,882 |
,877 | |
|
DSD3 |
,851 |
,888 | |
|
DSD4 |
,760 |
,920 | |
|
RR |
RR1 |
,770 |
,905 |
|
RR2 |
,732 |
,910 | |
|
RR3 |
,787 |
,903 | |
|
RR4 |
,787 |
,903 | |
|
RR5 |
,750 |
,908 | |
|
RR6 |
,802 |
,901 | |
|
XH |
XH1 |
,570 |
,796 |
|
XH2 |
,695 |
,739 | |
|
XH3 |
,630 |
,770 | |
|
XH4 |
,647 |
,761 |
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Kiểm định KMO & Barlett:
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là một chỉ số dùng để đánh giá sự phù hợp của phân tích nhân tố. Trị số KMO phải đạt từ 0,5 trở lên (0,5 ≤ KMO ≤ 1). Kiểm định Bartlett dùng để xem xét các biến quan sát trong nhân tố có tương quan với nhau hay không. Kiểm định này sẽ giúp chúng ta đánh giá được là phân tích nhân tố khám phá của chúng ta có nên thực hiện tiếp hay không. Để áp dụng phân tích nhân tố, các biến quan sát phản ánh những mặt khác nhau của cùng một nhân tố phải có mối quan hệ với nhau. Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê khi sig. Bartlett’s Test nhỏ hơn 0,05; điều đó chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong nhân tố.
Hệ số KMO và kiểm định Bartlett's Test
|
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. |
,920 | |
|
Bartlett's Test of Sphericity |
Approx. Chi-Square |
4256,942 |
|
df |
171 | |
|
Sig. |
,000 | |
Trong Table 4 trên, hệ số KMO là 0,920 (>0,5); và giá trị Sig. cũng rất nhỏ (0,000). Điều đó có thể khẳng định rằng kiểm định Bartlett có ý nghĩa.
Tiếp theo, chúng ta cần quan tâm đến Trị số Eigenvalue. Đây là một chỉ số được sử dụng phổ biến để tính toán số lượng nhân tố phù hợp nhất được trích trong mà trận xoay EFA. Ở tiêu chí này, ta chỉ giữ lại những nhân tố có Eigenvalue lớn hơn 1 trong mô hình phân tích.
Bảng giá trị tổng phương sai
|
Component |
Initial Eigenvalues |
Extraction Sums of Squared Loadings |
Rotation Sums of Squared Loadingsa | ||||
|
Total |
% of Variance |
Cumulative % |
Total |
% of Variance |
Cumulative % |
Total | |
|
1 |
7,479 |
39,362 |
39,362 |
7,479 |
39,362 |
39,362 |
5,764 |
|
2 |
3,282 |
17,272 |
56,634 |
3,282 |
17,272 |
56,634 |
5,833 |
|
3 |
2,339 |
12,311 |
68,945 |
2,339 |
12,311 |
68,945 |
3,293 |
|
4 |
1,023 |
5,386 |
74,331 |
1,023 |
5,386 |
74,331 |
5,274 |
|
5 |
,589 |
3,102 |
77,433 | ||||
|
6 |
,511 |
2,689 |
80,122 | ||||
|
7 |
,473 |
2,490 |
82,612 | ||||
|
8 |
,453 |
2,384 |
84,996 | ||||
|
9 |
,354 |
1,864 |
86,860 | ||||
|
10 |
,353 |
1,860 |
88,720 | ||||
|
11 |
,341 |
1,795 |
90,515 | ||||
|
12 |
,304 |
1,598 |
92,113 | ||||
|
13 |
,277 |
1,460 |
93,574 | ||||
|
14 |
,236 |
1,240 |
94,814 | ||||
|
15 |
,231 |
1,217 |
96,030 | ||||
|
16 |
,220 |
1,159 |
97,189 | ||||
|
17 |
,196 |
1,031 |
98,221 | ||||
|
18 |
,190 |
1,000 |
99,221 | ||||
|
19 |
,148 |
,779 |
100,000 | ||||
|
Extraction Method: Principal Component Analysis. | |||||||
|
a. When components are correlated, sums of squared loadings cannot be added to obtain a total variance. | |||||||
Quan sát Table 5, hệ số Eigenvalue được trích đến nhân tố thứ 5 là sẽ nhỏ hơn 1. Như vậy nếu dữ liệu này trích ra được 4 nhân tố thì 4 nhân tố đó thể hiện được đặc tính của dữ liệu tốt nhất, việc trích thêm các nhân tố khác là không phù hợp.
Đồng thời giá trị tổng phương sai trích của mô hình là 74,331%. Điều này có nghĩa là 4 nhân tố trích được trong kiểm định EFA sẽ chỉ ra được 74,331% sự biến thiên của toàn bộ các quan sát.
Hệ số tải nhân tố (Factor Loading)
Hệ số tải nhân tố càng cao, nghĩa là tương quan giữa biến quan sát đó với nhân tố càng lớn và ngược lại, tức là biến con đó đóng góp càng lớn vào biến mẹ của nó. Theo Hair & cộng sự27, hệ số tải từ 0,5 là biến quan sát đạt chất lượng tốt, tối thiểu nên là 0,3.
Bảng ma trận xoaya
|
Component | ||||
|
1 |
2 |
3 |
4 | |
|
RR3 |
,906 | |||
|
RR4 |
,880 | |||
|
RR6 |
,872 | |||
|
RR5 |
,846 | |||
|
RR1 |
,776 | |||
|
RR2 |
,750 | |||
|
HI1 |
,965 | |||
|
HI2 |
,931 | |||
|
HI3 |
,916 | |||
|
HI4 |
,772 | |||
|
HI5 |
,647 | |||
|
DSD2 |
,930 | |||
|
DSD3 |
,925 | |||
|
DSD1 |
,884 | |||
|
DSD4 |
,864 | |||
|
XH3 |
,921 | |||
|
XH2 |
,715 | |||
|
XH4 |
,712 | |||
|
XH1 |
,670 | |||
|
Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Promax with Kaiser Normalization. | ||||
|
a. Rotation converged in 5 iterations. | ||||
Quan sát Table 6, có thể thấy các biến con đã hội tụ thành các nhóm như kỳ vọng, biểu hiện có 4 nhóm nhân tố riêng biệt tác động tới biến phụ thuộc.
Phân tích tương quan Pearson
Trước khi phân tích tương quan PEARSON, bước đầu tiên là tạo nhân tố đại diện cho từng biến độc lập. Phương pháp phổ biến nhất để tạo biến đại diện là trung bình cộng (MEAN), và phương pháp này cũng phù hợp với thang đo Likert 1-5 (thang đo dương) trong nghiên cứu này.
Bảng tương quan các biến
|
YD |
RR |
HD |
DSD |
XH | ||
|
YD |
Pearson Correlation |
1 |
,530** |
,725** |
,088 |
,943** |
|
Sig. (2-tailed) |
,000 |
,000 |
,118 |
,000 | ||
|
316 |
316 |
316 |
316 |
316 | ||
|
RR |
Pearson Correlation |
,530** |
1 |
,470** |
,008 |
,508** |
|
Sig. (2-tailed) |
,000 |
,000 |
,881 |
,000 | ||
|
316 |
316 |
316 |
316 |
316 | ||
|
HD |
Pearson Correlation |
,725** |
,470** |
1 |
,003 |
,675** |
|
Sig. (2-tailed) |
,000 |
,000 |
,957 |
,000 | ||
|
316 |
316 |
316 |
316 |
316 | ||
|
DSD |
Pearson Correlation |
,088 |
,008 |
,003 |
1 |
,085 |
|
Sig. (2-tailed) |
,118 |
,881 |
,957 |
,131 | ||
|
316 |
316 |
316 |
316 |
316 | ||
|
XH |
Pearson Correlation |
,943** |
,508** |
,675** |
,085 |
1 |
|
Sig. (2-tailed) |
,000 |
,000 |
,000 |
,131 | ||
|
316 |
316 |
316 |
316 |
316 | ||
|
**. Correlation is significant at the 0,01 level (2-tailed). | ||||||
Giá trị Sig. và Pearson Correlation cho biết mức độ tương quan giữa các cặp biến khi bỏ qua tất cả các biến khác. Thông qua Table 7, chúng ta có thể thấy tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập, với yêu cầu rằng biến phụ thuộc phải có tương quan với các biến độc lập (Sig.<0,05).
Có một chú ý là biến DSD không có tương quan với bất kỳ biến nào, đến đây ta có thể loại bỏ biến DSD, tuy nhiên việc loại bỏ biến có thể dẫn đến hồi quy bị sai lệch nên nghiên cứu vẫn sẽ giữ lại biến DSD để tiến hành hồi quy ở bước sau.
Phân tích hồi quy đa biến
Bảng tóm tắt mô hìnhb
|
Model |
R |
R Square |
Adjusted R Square |
Std. Error of the Estimate |
Durbin-Watson |
|
1 |
,951a |
,905 |
,903 |
,28774 |
1,918 |
|
a. Predictors: (Constant), XH, DSD, RR, HD | |||||
|
b. Dependent Variable: YD | |||||
Trong Table 8, ta quan tâm tới giá trị R bình phương hiệu chỉnh (Adjusted R Square) bằng 0,903. Ta thấy rằng: 0,5< R bình phương hiệu chỉnh < 1, do đó có thể khẳng định đây là mô hình tốt.
Kiểm định ANOVAa
|
Model |
Sum of Squares |
df |
Mean Square |
F |
Sig. | |
|
1 |
Regression |
244,222 |
4 |
61,056 |
737,462 |
,000b |
|
Residual |
25,748 |
311 |
,083 | |||
|
Total |
269,970 |
315 | ||||
|
a. Dependent Variable: YD | ||||||
|
b. Predictors: (Constant), XH, DSD, RR, HD | ||||||
Ta thấy giá trị Sig. của Table 9 – kiểm định ANOVA cho kiểm định F bằng 0,000 < 0,05; điều đó cho thấy mô hình là tốt.
Bảng hệ số tương quan - Coefficientsa
|
Model |
Unstandardized Coefficients |
Standardized Coefficients |
t |
Sig. |
Collinearity Statistics | |||
|
Std. Error |
Beta |
Tolerance |
VIF | |||||
|
1 |
(Constant) |
-,806 |
,125 |
-6,452 |
,000 | |||
|
RR |
,054 |
,026 |
,043 |
2,083 |
,038 |
,712 |
1,404 | |
|
HI |
,189 |
,030 |
,155 |
6,396 |
,000 |
,520 |
1,922 | |
|
DSD |
,022 |
,022 |
,018 |
1,018 |
,309 |
,987 |
1,014 | |
|
XH |
,943 |
,029 |
,814 |
32,579 |
,000 |
,491 |
2,037 | |
|
a. Dependent Variable: YD | ||||||||
Quan sát Table 10, giá trị Sig. của kiểm định t càng nhỏ (<0,05) thì hệ số càng có ý nghĩa thống kê. Ta có thể thấy giá trị sig. của biến DSD là 0,309 > 0,05, vì vậy có thể thấy nhân tố: “Nhận thức về tính dễ sử dụng” không có ý nghĩa thống kê. Hệ số phóng đại phương sai VIF của 3 nhân tố còn lại rất nhỏ, chứng tỏ mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến.
Hệ số beta đã chuẩn hóa (Standardized Coefficients) phản ánh mức độ tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc. Thông qua Table 10, ta có thể thấy được 3 giả thuyết H1, H3, và H4 được khẳng định bởi mô hình nghiên cứu; cùng với đó, biến ảnh hưởng xã hội (XH) là có tác động lớn nhất đến ý định sử dụng ví điện tử, sau đó là đến biến hữu ích (HI) và biến rủi ro (RR).
Phân tích sự khác biệt của các nhóm đối tượng thông qua kiểm định One Way ANOVA
Kiểm định One Way ANOVA được sử dụng để xem có sự khác biệt về trung bình của biến kiểm soát đối với những giá trị khác nhau của biến nghiên cứu, kiểm định này chỉ phù hợp với các biến có từ 3 giá trị trở lên (biến nghề nghiệp, độ tuổi). Trong khi đó, biến Giới tính chỉ có hai giá trị, do đó chúng ta sẽ sử dụng Independent Simple test.
-
Phân tích biến “Tuoi” và biến “Nghe”:
Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai
|
Biến |
YD | |||
|
Levene Statistic |
df1 |
df2 |
Sig. | |
|
Tuoi |
1,001 |
2 |
313 |
,369 |
|
Nghe |
1,984 |
3 |
312 |
,116 |
Thông qua Table 11, ta thấy kiểm định Levene test cho Sig. = 0,369 và 0,116 > 0,05; như vậy, phương sai các nhóm giá trị là đồng nhất. Vì vậy, ta tiếp tục sử dụng bảng ANOVA.
Kiểm định ANOVA
|
Biến |
YD | |||||
|
Sum of Squares |
df |
Mean Square |
F |
Sig. | ||
|
Tuoi |
Between Groups |
2,590 |
2 |
1,295 |
1,516 |
,221 |
|
Nghe |
Between Groups |
5,063 |
3 |
1,688 |
1,988 |
,116 |
Quan sát Table 12, ta thấy giá trị Sig. = 0,221 và 0,116 > 0,05, điều đó chứng minh rằng, không có sự khác biệt trung bình giữa các nhóm tuổi và nghề nghiệp. Điều đó minh chứng rằng giữa các nhóm tuổi và nhóm nghề nghiệp có sự đánh giá về ý định là giống nhau.
-
Phân tích biến GIOITINH:
Kiểm định tính độc lập của mẫu quan sát
|
Levene's Test for Equality of Variances |
t-test for Equality of Means | ||||
|
F |
Sig. |
Std. Error Difference | |||
|
YD |
Equal variances assumed |
,764 |
,383 |
,10389 | |
|
Equal variances not assumed |
,10386 | ||||
Thông qua Table 13, giá trị Sig. của Levene test bằng 0,383 > 0,05, như vậy, phương sai các nhóm giá trị là đồng nhất. Tiếp tục quan sát giá trị Std. Error Difference bằng 0,10389 > 0,05. Như vậy cũng không có sự khác biệt trung bình giữa các nhóm giới tính.
Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phát hiện và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của giới trẻ Hà Nội. Thông qua tổng quan nghiên cứu, mô hình này được xác định bao gồm các biến sau: Nhận thức về tính hữu dụng (HD), Nhận thức về tính dễ sử dụng (DSD), Nhận thức về rủi ro và bảo mật (RR), Ảnh hưởng xã hội (XH). Nghiên cứu đã xác minh sự tác động đáng kể của HD, RR, XH đối với ý định này. Kết quả này có tính nhất quán với rất nhiều các nghiên cứu trước, như: Ming & Jais 25, Mohd Thas Thaker & cộng sự4, Nguyen & Nguyen29, … Tuy nhiên, theo như nghiên cứu chỉ ra, yếu tố DSD không có tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của giới trẻ. Đây là điểm khác biệt khá lớn của nghiên cứu này với hầu hết các nghiên cứu trước đây. Các nghiên cứu đều chỉ ra yếu tố về nhận thức về tính dễ sử dụng DSD có ảnh hưởng đến ý định này 4, 5, 7, 8, 9, 11. Tuy nhiên, phát hiện này có sự tương đồng với nghiên cứu của Phan & cộng sự 6, cũng như nghiên cứu của Trivedi13. Điều này thể hiện rằng giới trẻ không quan tâm đến việc liệu ứng dụng đó có dễ sử dụng hay không, do nhóm đối tượng này có khả năng học hỏi và thích nghi rất nhanh với những ứng dụng mới. Vì vậy, việc phát triển một phần mềm thanh toán hữu dụng, tương thích với khách hàng, giúp họ đạt được sự mong đợi, và có tính bảo mật cao là cần thiết.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, XH đóng vai trò quan trọng nhất đối với ý định sử dụng ví điện tử trong giới trẻ. Sự khuyến khích được đưa ra bởi một nhóm người, những người có tầm ảnh hưởng trong xã hội, bạn bè, đồng nghiệp và các thành viên trong gia đình chắc chắn sẽ làm tăng thêm sự quan tâm của một cá nhân khi dùng thử ứng dụng hoặc sản phẩm30. Vai trò của nhân tố XH trong việc nâng cao ý định của khách hàng đã được ủng hộ rộng rãi trong các nghiên cứu trước đây25, 5. XH trở nên cần thiết để khuyến khích ý định sử dụng ví điện tử của người tiêu dùng, vì nó có thể xây dựng quan điểm cảm xúc và logic của người tiêu dùng ở các nước đang phát triển 5. Vì vậy, nếu nhà cung cấp dịch vụ ví điện tử thực hiện các chiến dịch quảng cáo sản phẩm với sự hợp tác của người nổi tiếng sẽ gia tăng nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm6.
Nghiên cứu này mang đến sự hiểu biết toàn diện về các phương pháp có thể được áp dụng để gia tăng ý định sử dụng dịch vụ thanh toán ví điện tử. Nghiên cứu cũng cung cấp hướng dẫn hữu ích để giúp các nhà nghiên cứu điều tra các vấn đề liên quan đến ví điện tử.
Khuyến nghị
Dựa trên những kết quả nghiên cứu đã được trình bày ở trên, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm gia tăng ý định sử dụng ví điện tử trong giới trẻ tại Việt Nam như sau:
Thứ nhất, cần khẳng định rõ vai trò của Ảnh hưởng xã hội (XH) trong việc nâng cao ý định sử dụng ví điện tử của giới trẻ Việt Nam. Nghiên cứu này đã chỉ rõ đây là nhân tố tác động lớn nhất đến ý định sử dụng ví điện tử của nhóm đối tượng trẻ tuổi. Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ví điện tử cần thực hiện các chiến dịch tiếp thị sử dụng những người có ảnh hưởng đến công chúng, gia tăng việc giới thiệu các phần mềm dịch vụ này thông qua người thân.
Thứ hai, cần thường xuyên tuyên truyền về tính hữu ích cũng như vai trò của ví điện tử trong nền kinh tế hiện nay. Rõ ràng, lợi ích mà ví điện tử mang lại cho người dùng là rất rõ nét. Khi phát triển các ứng dụng ví điện tử, đối với giới trẻ, nhà phát triển không nhất thiết phải quan tâm đến tính dễ sử dụng của ứng dụng, mà cần tập trung vào những giá trị cốt lõi mà ứng dụng đó mang lại.
Thứ ba, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ví điện tử cần tạo ra nền tảng ứng dụng phù hợp với các tiêu chuẩn tối đa về bảo mật và hạn chế rủi ro. Từ đó, người tiêu dùng có thể truy cập và thực hiện các hoạt động thanh toán một cách an toàn. Đồng thời, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ cũng phải thường xuyên sản xuất, truyền tải bằng văn bản, video những hướng dẫn cụ thể, chi tiết cách thức sử dụng dịch vụ ví điện tử một cách an toàn, hạn chế những rủi ro có thể gặp phải và hướng dẫn các cách phòng tránh. Ngoài ra, chính phủ cũng nên thực hiện những đầu tư cần thiết để đảm bảo cơ sở hạ tầng thanh toán ổn định và an toàn. Việc giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao dịch và cung cấp tính năng xác thực sẽ thu hút ý định sử dụng dịch vụ ví điện tử của người dùng nhiều hơn.
Kết luận
Thông qua kết quả nghiên cứu, ta có thể thấy được 3 giả thuyết H1, H3, và H4 được khẳng định bởi mô hình nghiên cứu, điều đó có nghĩa rằng: Nhận thức về tính hữu dụng (HD), Nhận thức về rủi ro và bảo mật (RR), Ảnh hưởng xã hội (XH) có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng ví điện tử của giới trẻ Việt Nam. Trong đó, biến ảnh hưởng xã hội (XH) là có tác động lớn nhất đến ý định này, sau đó là đến biến hữu ích (HI) và biến rủi ro (RR). Tuy nhiên, cũng theo như nghiên cứu chỉ ra, yếu tố DSD không có tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của giới trẻ.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HD: Nhận thức về tính hữu ích
DSD: Nhận thức về tính dễ sử dụng
RR: Nhận thức về tính rủi ro và bảo mật
XH: Ảnh hưởng xã hội
YD: ý định sử dụng ví điện tử
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm tác giả xin cam đoan rằng không có bất kì xung đột lợi ích nào trong công bố bài báo
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Tác giả Trần Mạnh Linh: chịu trách nhiệm các nội dung về 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và phần tóm tắt của bài nghiên cứu.
Tác giả Hà Sơn Tùng: chịu trách nhiệm các nội dung về 1, 2, 3, 4, 5 của bài nghiên cứu và liên hệ chính với tạp chí.
PHỤ LỤC
Tổng hợp các nhân tố và thang đo
|
Ký hiệu |
Thang đo |
Nguồn | |
|
Biến độc lập | |||
|
Nhận thức về tính hữu ích (HI) |
HI1 |
Ví điện tử nâng cao hiệu quả công việc của tôi |
Lee & cộng sự |
|
HI2 |
Ví điện tử giúp tôi tăng năng suất làm việc và mua sắm | ||
|
HI3 |
Ví điện tử giúp việc thanh toán hiệu quả hơn | ||
|
HI4 |
Tôi thấy ví điện tử hữu ích | ||
|
HI5 |
Ví điện tử giúp tôi kiểm soát tốt hơn việc thanh toán khi mua sắm | ||
|
Nhận thức về tính dễ sử dụng (DSD) |
DSD1 |
Thực sự dễ dàng để học cách sử dụng |
Suh & Han |
|
DSD2 |
Rất dễ nhớ cách sử dụng | ||
|
DSD3 |
Việc thao tác và sử dụng rất dễ dàng và hiệu quả | ||
|
DSD4 |
Việc kiểm tra số dư và giao dịch thanh toán rất tiện lợi và nhanh chóng | ||
|
Nhận thức về rủi ro và bảo mật (RR) |
RR1 |
Nền tảng thanh toán an toàn cho việc xác thực thông tin |
Chen |
|
RR2 |
Hệ thống luôn có phương án sẵn sàng đối phó với rủi ro và đảm bảo an toàn về dữ liệu | ||
|
RR3 |
Ví điện tử đảm bảo giữ nguyên thông tin của tôi | ||
|
RR4 |
Thông tin cá nhân của tôi sẽ không được sử dụng cho mục đích khác | ||
|
RR5 |
Các giao dịch riêng tư của tôi qua ví điện tử sẽ được bảo mật | ||
|
RR6 |
Hệ thống cơ sở dữ liệu bảo mật thông tin cá nhân của tôi | ||
|
Ảnh hưởng xã hội (XH) |
XH1 |
Những người quan trọng (gia đình/người thân/bạn bè) đang sử dụng thanh toán ví điện tử |
Junadi |
|
XH2 |
Những người có ảnh hưởng tới tôi đang sử dụng ví điện tử |
Venkatesh & cộng sự | |
|
XH3 |
Các cộng đồng mà tôi tham gia đều đang dùng ví điện tử để giao dịch |
Nguyen & cộng sự | |
|
XH4 |
Các phương tiện truyền thông và quảng cáo ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử của tôi. |
Teo & cộng sự | |
|
Biến phụ thuộc | |||
|
Ý định sử dụng ví điện tử (YD) |
YD1 |
Tôi có ý định sử dụng ví điện tử |
Phan & cộng sự |
|
YD2 |
Tôi có dự đoán về việc sẽ sử dụng ví điện tử |
Phan & cộng sự | |
|
YD3 |
Tôi có ý định sử dụng ví điện tử nếu chi phí và thời gian hợp lý |
Yang & cộng sự | |
|
Biến kiểm soát | |||
|
Giới tính |
Nam | ||
|
Nữ | |||
|
Độ tuổi |
12-18 | ||
|
19-22 | |||
|
23-30 | |||
|
Nghề nghiệp |
Doanh nghiệp nhà nước | ||
|
Doanh nghiệp tư nhân | |||
|
Làm tự do | |||
|
Khác | |||